Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

TÌM HIỂU SỐ TỬ VI NHƯ THẾ NÀO?
KHOA HỌC HAY MÊ TÍN ?
***
                            Nguyễn Hồng Trân

          Môn phái "số tử vi" (STV) từ Trung Quốc truyền sang Việt nam ta từ thủa xa xưa và cũng không ai biết được chính xác nó đã xuất hiện ở nước ta vào thời kỳ nào. Tuy vậy, qua các sách vở lưu truyền lại, người ta cũng đã biết ông Tổ Sư của môn phái STV này là do ông Trần Đoàn tức là Hi Di Tử thời nhà Tống Trung Quốc (năm 966-980) sáng lập ra. Sách Vân Đài loại ngữ của Lê Qúy Đôn cũng xác nhận như thế. Về sau, các nhà Tử Vi học cứ diễn dịch, triễn khai dần dần thành một môn Tử Vi chính thống. Ở Việt Nam ta cũng xuất hiện một số sách về STV của các tác giả như Vân Đằng Thái Thử Lang, Nguyễn Phước Lộc, Nguyễn Mạnh Bảo v.v...
          Cách thức lập lá số và phép luận giải rất bài bản, công phu. Cơ sở phương pháp luận của STV  là dựa vào thuyết "ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH". Do đo, vấn đề STV làm cho nhiều người xưa và nay càng thêm quan tâm tìm hiểu.
Thực ra vấn đề STV có hay, dở ra sao còn phụ  thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó có yếu tố khả năng, tài nghệ của người lý giải. Còn về mặt khoa học nó đạt mức độ nào cũng chưa ai đánh giá, tổng kết một cách khách quan, sát thực.
          Theo quan điểm của các nhà chiêm tinh học Trung Quốc đã cho hay rằng: mỗi con người ta sinh ra trong một thời điểm nào đó (năm, tháng, ngày, giờ  âm lịch) thì đều có các vì sao tương thích trong vũ trụ tác động vào cơ thể của người ấy và làm ảnh hưởng đến toàn diện cuộc đời nhân sinh về trí tuệ, tình cảm, sức khỏe, sở trường v.v... Từ đó, các nhà Tử Vi học đã nghiên cứu , sắp xếp và quy định được 14 vì sao chính và 97 sao phụ. Tất cả các loại sao đều được phân vị theo quy tắc kết hợp hoặc riêng biệt và tác động lên 12 cung đời của từng người trong bản đồ lá STV. Đó là cung:   Bổn mệnh, Phụ mẫu, Phúc đức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Ách tật, Tài bạch, Tử tức, Phu thê, Huynh đệ .
  
          Cung mệnh được an vị đầu tiên theo tháng và giờ sinh, còn các cung sau lần lượt theo chiều thuận kim đồng hồ mà định vị trong từng ô của lá số theo thứ tự: mệnh, phụ mẫu, phúc đức ... còn có cung thân không cố định riêng, là cung ngụ cư tại một cung nào đó, tuỳ theo đặc điểm của lá số. Cung thân an vị cũng theo tháng và giờ sinh như cung mệnh chỉ khác là chiều tính giờ thì ngược lại.

          Các sao chính có 14 sao. Sao Tử  vi làm chủ hệ. Nó được an vị theo ngày sinh và phụ thuộc vào bản cục của đương số còn các sao khác phụ thuộc vào sao Tử Vi và định cư theo quy tắc riêng. Thí dụ: Sao Thiên phủ bao giờ cũng ở vị trí đối xứng qua đường chéo Dần - Thân của lá số. Nếu Tử Vi ở Tý thì Thiên phủ ở Thìn; Tử vi ở Tuất thì Thiên phủ ở Ngọ v.v... 14 sao chính được sắp xếp thành  hai vòng trong các ô của lá số.
         Vòng thứ  nhất bắt đầu từ sao Tử Vi (cách 3 ô) đến sao Liêm trinh (cách 2 ô)đến sao Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương (cách 1 ô) đến Thiên Cơ. Vòng thứ hai từ sao Thiên Phủ; tiếp Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát (cách 3 ô) đến Phá Quân.
          Các sao phụ có nhiều loại như Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Tuần, Triệt v,v... mỗi loại sao an vị theo cách riêng của nó.
          Quá trình luận giải lá STV gồm 2 bước: Bước đầu là sơ giải, bước sau là tinh giải. Bước sơ giải là xem xét yếu tố Sinh - Khắc giữa bản Cục và bản Mệnh như thế nào. Nếu Cục sinh Mệnh thì Mệnh thịnh Vượng. Thí dụ: Cục  Hỏa, Mệnh Thổ; Nếu Cục khắc Mệnh thì Mệnh suy. Thí dụ: Cục Thủy, Mệnh Hỏa. Sau đó phải xem sao Tử Vi đóng ở cung nào để biết ý nghĩa thuộc tính thuận nghịch ra sao? Nếu sao Tử  Vi đóng tại cung Tý, Hợi, Mão, Dậu là bình địa (tức là bình thường); tại Sữu, Mùi là đắc địa (thuận lợi); tại Thìn, Tuất là vượng địa (khá thuận lợi);tại Dần, Thân, Tỵ, Ngọ là Miếu địa (rất thuận lợi). Còn 13 sao chính khác thì có thêm thuộc tính hãm địa (bất lợi).
          Trong bước sơ giải này cũng phải liên hệ với các cung đời(Mệnh, Phụ, Phúc...) cung địa chi (Tý, Sữu, Dần, Mão...) để có được những thông tin về ý nghĩa.
          Lưu ý rằng: các cung địa chi thì luôn luôn cố định, còn các cung đời thì di động tùy thuộc vào cung mệnh mà các cung khác xếp đặt liên tiếp theo sau (như đã nêu ở trên). Riêng cung Thân là cung ngụ cư vào một cung khác nào đó thì phải chịu ảnh hưởng lớn vào cung ấy. Chẳng hạn Thân cư ở cung Mệnh  thì có nghĩa  bản thân tự lập, tự làm nên sự nghiệp; nếu Thân cư ở cung Thê thì được nhờ vợ, phụ thuộc nhiều vào vợ, vợ định đoạt mọi việc trong nhà; Thân cư ở cung Quan lộc là nhờ vào đường công danh, sự nghiệp mà phát đạt, có uy quyền tín nhiệm. Thông thường cung Thân được luận giải cho người từ 30 tuổi trở lên.
          Sang bước thứ hai là bước tinh giải. Bước này là giải tỷ mỷ tinh tường, phải cân nhắc mức độ ảnh hưởng của từng sao chính và sao phụ ở trong từng cung, kết hợp với các phép xung chiếu, hợp chiếu để giải đoán. Trong đó, quan trọng nhất là xung chiếu (tức là dựa vào các sao có trong cung đối xứng qua tâm lá số).  Thí dụ: cung xung chiếu của cung Dần là cung Thân. Quá trình luận giải từng cung đời chủ yếu là phân tích ý nghĩa của từng sao trong cung chủ định rồi liên hệ với tính chất các sao trong xung chiếu rồi tổng hợp lại thành nội dung của vấn đề giải được. Chẳng hạn về cung Mệnh, cung Thân thì phải giải được về cốt cách, tinh thần, tính tình, vận mệnh, thọ yểu ra sao; cung Ách tật thì giải xem về sức khỏe, bệnh tật, tai họa ở mức độ nào; cung Tử tức là xem con cái nhiều ít, con đầu trai hay gái, con cái dễ nuôi hay khó nuôi, có được nhờ con cái không v.v...
          Sau khi giải xong 12 cung đời là giải sang Đại hạn (10 năm) và Tiểu hạn (1 năm) để biết một số điều tác động đáng kể trong vòng hạn đó đến bản thân như thế nào...
          Qua gần 20 năm quan tâm tìm hiểu và luận giải STV cho nhiều người(226 người) để nghiên cứu thực chất của vấn đề này, chúng tôi thấy rằng: tỷ lệ giải đúng theo sách so với thực tế chỉ đạt tới khoảng 60%  là cao nhất (đối với các cung Mệnh, Thân, Quan lộc, Tài bạch, Thiên di, Ách tật); các cung khác chỉ đúng khoảng 50% . Riêng các cung Phụ Mẫu, Phúc đức, Điền trạch tỷ lệ đúng là thấp nhất, chỉ độ 30%  mà thôi. Xin nêu dẫn chứng một trường hợp kỳ lạ là kết quả giải 2 lá STV cho hai anh em ruột mà một người thì bố mẹ thọ bách niên giai lão, còn người kia thì bố chết sớm, mẹ đi thêm bước nữa.
          Qua những thực tế mâu thuẫn đó, chúng tôi thấy rằng về cách thức luận giải lá STV theo sách vở xưa và nay của Tàu và ta vẫn có một cái gì đó chưa ổn. Những kết quả của luận giải có nhiều chỗ mâu thuẫn với thực tế của cuộc đời. Mặc dù quy trình tạo lập lá số và cách thức luận giải nội dung rất là bài bản; có quy tắc chặt chẽ, rõ ràng.
Chính nhờ đó mà các nhà toán tin, công nghệ thông tin Việt Nam và ngoại quốc ngày nay đã tiến hành lập trình, tạo ra được các phần mềm chấm STV và giải đoán lá STV. Các phần mềm này được cài trên các trang mạng như Vietlyso.com;  Tuviglobal.com; Opera.com; lyhocdongphuong.org.vn; chạy được trên các máy vi tính hiện nay có giao diện màn hình đẹp, lá số rõ ràng dễ xem. Nhưng tiếc thay về phần luận giải lá số thì khó mà tin được nhiều. Vì kết quả giải ra thường cứ trùng lặp, có một số câu lý giải chung chung, giống nhau về nội dung trong những lá số khác nhau. Có lẽ "từ điển giải mã" của các nhà Tử vi học ngày xưa vẫn còn có những chỗ khiếm khuyết mà lâu nay chưa ai đủ điều kiện nghiên cứu thật sâu để bổ sung hoàn chỉnh. Hoặc có thể những nhà lập trình học môn Tử vi học chưa hiểu sâu hết các mối liên hệ giữa các sao chính, sao phụ đóng ở các cung trong lá STV. Cũng không phải vì thế mà chúng ta nghi ngờ rằng STV là phương sách giả tạo của các nhà chiêm tinh học phong kiến thời xưa để nhằm ổn định tâm lý, đạo đức cho mọi người trong xã hội. Bởi vì các nhà Tử vi học không dễ dàng gì mà đánh lừa được nhiều nhà thông thái trong xã hội. Qua thực tế, cái gì thực sự nghiệm đúng được nhiều thì người ta mới tin và nó mới tồn tại lâu dài. Chẳng hạn chuyện thực về Trần Thái Tông đã giải đoán STV và  biết trước đuợc ngày mất của mình là ngày mồng một tháng tư năm Đinh Sửu (1277)[Sách Đại Việt sử kí toàn thư quyển V, trang 39]. Mặt khác, cũng không phải vì một số điều giải đoán STV  chính xác với thực tế mà chúng ta quá sùng bái STV đến mức mê tín. Từ đó dễ sinh ra những tâm lý lo âu, sợ hãi hoặc vui sướng, lạc quan hão huyền. Như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, đến hạnh phúc gia đình và quan hệ  bà con, bạn bè trong xã hội.

          Trải qua thực tế nhiều năm khảo sát, nghiên cứu vấn đề STV, chúng tôi xin mạnh dạn nêu lên mấy ý kiến sau đây:
          1.Môn phái Tử vi học, theo chúng tôi nghĩ là nó có phần nào mang tính khoa học. Bởi vì nó dựa theo phương pháp luận là thuyết âm dương ngũ hành phương Đông - Thuyết này đã được nhiều Hội đồng khoa học của các nước thừa nhận và đã ứng dụng vào y dược học, châm cứu, luyện tập dưỡng sinh, trong lịch pháp, trong thời vụ nông nghiệp v.v... có hiệu quả.
          2.Cách luận giải STV có vẻ thâm thúy nhưng chưa tạo được những mạch tư duy lôgích giữa những diễn biến của các vấn đề khi luận giải. Do vậy, có nhiều trường hợp phát sinh mâu thuẫn thì không giải quyết được. Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì ngày xưa những thầy Tử vi học viết sách luận giải theo chủ quan suy đoán  của mình. Lúc đó chưa đủ các điều kiện về phương pháp toán học, tin học vi tính như bây giờ để rà xét lại những kết quả giải đoán mà hoàn chỉnh và tối ưu hóa dần.
          3.Ngày nay, chúng ta có thuận lợi về các phương tiện hiện đại thì có thể đi sâu để tìm ra được bản chất của vấn đề.

          Chúng tôi hy vọng rằng trong thời gian không xa nữa, những ai đã quan tâm đến vấn đề này thì cùng nhau hợp lực nghiên cứu để có thể đi đến thống nhất được ý kiến về STV là khoa học hay là mê tín?
Qua nhiều năm nghiên cứu và thực hành giải đoán STV, tôi vẫn cho rằng:
STV không hẳn là mê tín mà cũng không hoàn toàn thật sự là khoa học, nó chỉ mang màu sắc khoa học mà thôi. Đến nay, chúng ta vẫn chưa thể khẳng định chính xác được điều đó.


Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

CHIỀU HƯƠNG GIANG


              CHIỀU HƯƠNG GIANG.
                              *****   
                             Nguyễn Hồng Trân    
Chiều Hương Giang nước êm đềm trôi mãi.
Phượng liễu thì thầm bóng rũ bên sông,
Cầu Trường Tiền vẫn mơ màng trong gió,
Bến Văn Lâu ấp ủ ánh hoàng hôn.

Giọng hò mái nhì trầm bổng ngân vang,
Chiều hè gió mơn man thuyền xuôi ngược.
Mấy cô gái tóc thề nhìn dòng nước,
Lòng bâng khuâng điều mơ ước tương lai…

Ôi Hương Giang ơi! Ta nhớ nàng hoài !
Êm đềm chảy, nối bao tình với biển cả.
Đàn chim én tưng bừng bay rộn rã,
Gió rì rào, tiếng sóng dội lao xao.

Hương Giang ơi, thân thiết biết nhường nào!
Thời trai trẻ chứa bao điều kỷ niệm…
Mỗi lần ngắm nhìn, ta càng xao xuyến.
Chuyện tình đời lưu luyến mãi trong ta…
                               ====
              Phủ Cam, Phước Vĩnh, tp. Huế năm Nhâm Thìn = 2012

VĂN HÓA ĐỌC NGÀY NAY...

                   

                           VĂN HÓA ĐỌC NGÀY NAY

                                             Nguyễn Hồng Trân (cựu GV. ĐHKH -Huế)

Có thể nói rằng sách báo, tài liệu là “món ăn”, là nguồn “thực phẩm” bổ ích cho đời sống tinh thần hàng ngày cho mọi người muốn hiểu biết. Nhất là đối với lớp trẻ thời nay cần phải đọc tài liệu,sách báo nhiều mới theo kịp được những thông tin mới; những vấn đề cần thiết cho cuộc sống, cho sự phát triển nghề nghiệp và sáng tạo cho xã hội.
Sách báo, tài liều là tài sản văn hóa quí giá của tri thức nhân loại tạo nên. Nhất là sách báo về khoa học, kỹ thuật, xã hội nhân văn và văn hóa nghệ thuật là những sản phẩm của trí tuệ và thực tiễn đã đúc kết lại để lưu truyền cho các thế hệ mai sau.
Ngày nay, các loại sách báo và tài liệu quá nhiều - Việt văn cũng như Ngoại văn. Thật thuận lợi cho nhiều người tham khảo, nghiên cứu và học tập để nâng cao kiến thức của mình. Với sức trẻ dồi dào và lòng mê say nhiệt tình với sách báo của học sinh, sinh viên bây giờ cũng không thể nào đọc xuể hết những thông tin hàng ngày của lĩnh vực mình cần quan tâm. Tất nhiên, đọc sách báo, tài liệu đã được in ấn lưu hành, cũng như những tài liệu sách báo trực tuyến trên mạng là phải có chọn lọc theo nhu cầu về học tập, nghiên cứu, giải trí v.v...
Nhưng cách đọc như thế nào để đọc được nhiều và có hiệu qủa? Điều đó là thuộc nghệ thuật và năng lực riêng của từng người. Không thể bắt ai rập khuôn theo ai cả. Bởi vì nó còn phụ thuộc vào khả năng trí tuệ và sự kiên nhẫn, chịu khó của người đọc. Tuy vậy, chúng tôi cũng có đôi điều cần trao đổi cùng nhau để nâng cao chất lượng việc đọc sách báo nhằm khai thác kịp thời những thông tin tư liệu hữu ích cho quá trình trích lũy, tự làm giàu và phát triển vốn hiểu biết của mình. Nghĩa là phải biết cách nạp năng lượng vào trí tuệ một cách hợp lý để sau này trí tuệ có điều kiện để sản sinh ra những năng lượng mới mạnh hơn.
Thông thường việc đọc sách báo có 3 mục đích:
 Một là để phục vụ cho mục đích chính của mình như học tập, nghiên cứu, nghề nghiệp và công tác.
Hai là để mở rộng tầm hiểu biết nhận thức về các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật...
Ba là đọc để giải trí, thư giãn tinh thần. Mặc dù mục đích có khác nhau nhưng khi đọc cần phải nắm được:
1. Nội dung chủ yếu vấn đề.
2. Các ý chính của vấn đề.
3. Các dẫn chứng, đánh giá và số liệu.
Nếu đọc sách báo, tài liệu để phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu thì nên chú ý thêm và nguồn tư liệu của ai, do ai viết, ai dịch, cơ quan nào xuất bản? Vào năm nào? Điều này rất quan trọng. Vì nó sẽ giúp ta cân nhắc độ tin cậy vào các thông tin, tư liệu, sự kiện và những nhận xét đánh giá vấn đề một cách khoa học. Như trong dân gian ta có câu: “Nói có sách, mách có chứng”. Có như thế người ta mới tin. Chẳng hạn, nếu có một bài dịch từ ngoại văn nghe rất hay và có nhiều thông tin sự kiện hấp dẫn, nhưng dịch giả lại không ghi cụ thể dịch từ nguồn gốc thư mục nào thì người ta khó mà tin cậy được. Nhất là đối với các tài liệu trên mạng thì phải dè chừng! Không nên quá vội vàng tin cậy ngay mà phải xem xét, đối chiếu với nhiều tài liệu khác để kiểm chứng mới dùng. Bởi vì hiện nay trên mạng có nhiều tài liệu bị xuyên tạc méo mó, thậm chí sai lệch rất nhiều cũng do không ít tác giả vô trách nhiệm với bài viết của mình; hoặc có tình trạng viết ẩu cho xong chuyện; hoặc cố ý bóp méo sự thật, hay bịa đặt ra như thật nhằm mục đích cá nhân để lừa gạt những người cả tin với ý đồ chính trị thù địch, xấu xa, v.v…
Vì vậy, mỗi một người, tùy theo nhu cầu, mục đích đọc sách báo, tài liệu mà sử dụng cách đọc cho hợp lý. Có thể đọc lướt qua để nắm nội dung chủ đề; có thể đọc toàn văn để nắm bắt các thông tin cốt yếu; có thể đọc kỹ để nghiên cứu, phân tích v.v... có những số liệu, thông tin cần thiết nên ghi chép lại để lưu giữ và sử dụng về sau.
Người đọc sách báo muốn biết được khả năng đọc và nhớ của mình như thế nào sau khi đọc xong một bài báo hay một tài liệu, ta hãy cố nhớ lại được bao nhiêu dạng thông tin, ý tứ trong đó. Nếu nhớ được nhiều tức là khả năng tiếp nhận và lưu giữ thông tin của trí não rất tốt. Nhưng ngược lại, nếu ta nhớ được ít tức là tiếp thu kém. Như vậy, cần phải tập luyện cách nhớ các dạng thông tin. Muốn nhớ được nhiều ý của nội dung vấn đề thì phải biết tìm các thông tin chính rồi liên hệ với các dữ liệu liên quan. Ta cứ hình dung toàn bộ vấn đề thuộc nội dung của một bài báo hay quyển sách như một cái cây. Nó có gốc, thân, cành, nhánh, lá. Trước tiên phải nhớ cái gốc, cái thân là những cái gì và nó thể hiện như thế nào? Sau đó nhớ tới các cành ra sao? Từ đó, liên hệ đến các nhánh rồi nhớ chi tiết đến lá càng tốt. Ta phải tập nhớ từ những cây đơn giãn (một thân, vài cành...) .
Một điều cần lưu ý đáng nhớ thêm là các mầm non mới nẩy sinh từ thân cây hoặc ở cành cây. Đây chính là biểu lộ những yếu tố mới bắt đầu sinh thành. Còn bộ phận của rễ cây nằm dưới đất ta không thể thấy được. Điều này rất thú vị, nó giúp chúng ta suy đoán được, luận lý được khi liên hệ với thân cành. Nghĩa là nếu thân cây to thì rễ cứng và lan tỏa ra nhiều. Thân cây lớn cao thì rễ cắm sâu và chắc. Từ đó, ta có thể suy luận ra nhiều vấn đề tiềm ẩn khác thuộc chiều sâu và chiều rộng đáng được khám phá của chủ đề.


Một điều vô cùng quan trọng đối với người đọc sách báo là biết được giá trị nội dung của vấn đề; Tìm ra được cái hay cái dở của vấn đề. Theo chúng tôi, giá trị của tài liệu không chỉ thể hiện ở chô ùlý luận chặt chẽ, minh chứng rõ ràng, số liệu đáng tin cậy v.v... mà còn có những nhận xét, đánh giá thích đáng; những suy đoán, dự báo khoa học với những ý tưởng hợp lý, mới mẻ. Vấn đề này không dễ dàng gì mà hiểu biết chính xác được; Không phải bạn đọc nào cũng nắm được các đặc tính khoa học trong một quyển sách hay bài viết nghiên cứu.
Nói thực ra là phải có trình độ, kiến thức; phải quen học hỏi nghiên cứu qua sách báo nhiều lần mới có kinh nghiệm chọn lọc, phân tích, tổng hợp tài liệu rồi suy diễn vấn đề. Nhờ vậy, nhiều người biết cách đọc sách báo và đã biết tích lũy, vận dụng khai thác được nhiều thông tin tư liệu có giá trị ở những phạm trù và góc độ khác nhau. Do đó mà giúp ta tránh được hiện tượng giáo điều, rập khuôn. Khi vận dụng tri thức vào thực tế công việc hay học tập nghiên cứu. Người đọc sách báo thành thạo bao giờ cũng tìm được cho mình một phương thức riêng về tiếp nhận thông tin và vận dụng nó một cách hợp lý.
Cần lưu ý rằng, trong các sách báo nhiều khi đề cập đến một thuật ngữ nào đó, người ta thường đưa ra những khái niệm với những ý niệm khác nhau do những góc độ nhìn khác nhau. Thí dụ như khái niệm về “MAKETING“ có nhiều định nghĩa:
- “Maketing” là cách thức làm tăng cường việc tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ kinh tế thị trường.
- “Maketing” là nghệ thuật tạo giá trị đầu ra cho sản phẩm hàng hóa.
- “Maketing” là biện pháp thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- “Maketing” là phương sách tạo ra lợi nhuận và uy tín cho việc sản xuất ra hàng hóa.
- “Maketing” là hoạt động nhằm thu hút sự chú ý đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường hàng hóa.
Như vậy, cốt lõi của Maketing là cách tạo điều kiện cho đầu ra của sản phẩm thuận lợi. Do đó, người đọc phải biết tìm cái cốt lõi của vấn đề và ý nghĩa của nó để có nhận thức đúng đắn rồi vận dụng định nghĩa nào cho phù hợp với nội dung của vấn đề mình nêu ra.
Càng đọc sách báo càng nhiều thì người đọc sẽ được nâng cao nhận thức của mình càng vững vàng, phong phú. Nhưng thời đại ngày nay, lượng thông tin, tư liệu qua sách báo quá nhiều. Chúng ta không thể nào đọc kịp thời được hết những thông tin cần thiết. Mặt khác cũng có nhiều thông tin qua sách báo chưa được chuẩn xác thì cần phải đọc thêm nhiều tài liệu khác để đối chứng nhằm tìm ra được những nguồn thông tin đáng tin cậy. Vì thế, phải có định hướng, có mục đích để tìm những vấn đề thiết thực cho nghề nghiệp, cuộc sống, tinh thần và hoạt động trí tuệ của mình. Có như vậy việc học tập qua sách báo mới có hiệu quả thực sự. Đó mới chính là có trình độ văn hóa đọc.
                                              =====
                                                 

RƯỢU TRẮNG SICA KIM LONG...


RƯỢU TRẮNG S.I.C.A QUẢNG TRỊ
               Nguyễn Hồng Trân
Ai về thưởng thức rượu SICA
Nặng độ thơm ngon vị đậm đà
Chạm cốc vui mừng hội ngộ bạn
Nâng ly chúc tụng hàn huyên ta
Lời thơ ấm áp nâng hồn trẻ
Khúc nhạc thân quen hợp tuổi già
Rượu trắng Kim Long nguồn đặc sản
Hải Lăng, Quảng Trị mãi vang xa…
                ( NHT- Chi hội thơ Đường UNESCO tp. Huế)
Ghi chú: Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có nhận xét “rượu Kim Long ở Hải Lăng, Quảng Trị ngon hơn hết(sách “Đại Nam nhất thống chí”, quyển thứ 8, mục “Thổ sản”).
Điều này làm cho người Pháp chú ý và tổ chức sản suất lớn dần và tạo thành hãng rượu SICA Kim Long, Quảng Trị.
Rượu SICA là tên hãng sản xuất rượu ngon nguyên chất tại làng Kim Long, xã Hải Dương, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã trở thành thương hiệu rượu ngon có tiếng cả toàn quốc. Theo tôi được biết qua tài liệu xưa, rượu này do một Hiệp hội thương mại rượu Đông Dương (viết tắt của những từ sau S:Société = Hiệp hội, I: Indochinoise= Đông Dương, C: Commerce = Thương mại , A: Alcoolique = về rượu) của Pháp thời xưa độc quyền sản xuất ở Huế và Quảng Trị vào những năm 1932- 1943. Rượu SICA Kim Long này rất thịnh hành được nhiều nơi ưa chuộng vì rượu nặng độ (45-50 độ),có mùi vị thơm ngon, đậm đà.
Để bảo đảm uy tín cho hãng rượu này, người Pháp chủ hãng rượu SICA có đặt đại lý rượu SICA Kim Long ở nhiều nơi trong các tỉnh Bình, Trị, Thiên. Nhất là những nơi gần chợ. Đồng thời có kiểm tra viên đi đo độ rượu ở các thùng chứa của các đại lý. Nếu đại lý nào có pha chế làm giảm độ rượu thì sẽ bị phạt nặng và cắt hợp đồng làm đại lý. Tại chợ Diên Sanh, ông nội của tôi là Nguyễn Bá Đàm (tức ông giáo Tiềm) có làm đại lý cho hãng rượu này một thời gian (1935-1937), sau đó mở hiệu bán thuốc Bắc và làm thầy thuốc Đông y lâu năm cho đến năm 1971 thì ông qua đời.

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

BÚT KÝ GẶP NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ KỂ CHUYỆN...

           Bút ký:      
                                     GẶP NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ
                       KỂ CHUYỆN NGÀY VỀ TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ
                                                                    Nguyễn Hồng Trân
Trong đoàn quân kéo về tiếp quản Thủ đô Hà Nội vào ngày 10-10-1954, có anh lính Phan Thanh Bồng từ chiến trường  Điện Biên thắng lợi trở về trong niềm hân hoan và  vinh dự nhất trong đời anh. Anh Bồng là người  thôn Thượng  Xá, thuộc xã Hải Thượng, Hải Lăng, Quảng Trị. Hồi ấy anh Bồng mới 21 tuổi, nay đã thành ông già 79 tuổi, nhưng tôi thấy bác vẫn còn khỏe và minh mẫn kể chuyện cho tôi nghe một cách hứng thú, vui vẻ và đầy tự hào về cuộc đời lính cụ Hồ trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp. Bác Bồng đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ  rồi được trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội và làm việc ở đây rồi nghỉ hưu cho đến bây giờ(2012) là gần 60 năm.
Vào cuối tháng 9 năm nay, tôi đến thăm bác(là một người bà con bên ngoại của tôi) đang cư trú tại nhà E4 khu Thanh Xuân Bắc, Hà Nội.
Nhân dịp sắp đến ngày kỷ niệm 58 năm ngày Giải phóng Thủ đô Hà Nội (10-10-1954—10-10-2012), tôi được tiếp chuyện với bác Bồng và nghe bác kể lại mấy nét thăng trầm về cuộc đời bộ đội của  bác trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thời giặc Pháp và chuyện niềm vui của bác khi được cùng đoàn quân ta kéo về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Bác Bồng đã kể rằng,  bác vào  thiếu sinh quân từ lúc mới 13, 14 tuổi, sau đó vào bộ đội  (hồi đó gọi là Vệ quốc đoàn) thuộc tiểu đoàn 15, Trung đoàn 95 (thuộc tỉnh Quảng Trị).  Đến năm 1952- 1953, bác  được điều ra chiến trường Tây Bắc thuộc Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 và tham gia chiến đấu với giặc tại vùng Tây Bắc và Thượng Lào. Sau đó bác theo Sư đoàn 308 về tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ [ĐBP] đánh đồn Độc Lập, vây Mường Thanh, diệt vị trí Pắc Xíu. ..    Bác vừa là một người lính chiến đấu vừa là một họa sĩ chiến trường, bác đã  phác họa lên dược những hình ảnh sinh động kịp thời các chiến sĩ  trong chiến hào đang hừng hực tinh thần chiến đấu dũng cảm. Có lần các chiến sĩ giải tù binh Pháp đi ngang qua, bác liền lấy bút chì ra phác họa cấp tốc một số  chân dung tù binh Pháp đang sợ sệt và lủi thủi cúi đầu đi vội vàng về khu trại giam tù binh dã chiến ở phía sau chiến trường.
Sau chiến dịch ĐBP thắng lợi vào tháng 5 năm 1954, tinh thần của các chiến sĩ quân ta vô cùng phấn khởi, bừng bừng khí thế thắng khắp các chiến trường. Sau thất bại nặng nề ở Việt Nam, Chính phủ Pháp buộc phải ký Hiệp định Geneve vào tháng 7 năm 1954 - đình chiến tại Việt Nam.
Tôi thân mật hỏi kỹ bác Bồng về những ngày chuẩn bị quân ta kéo về tiếp quản Thủ đô:
“Xin bác cho biết đôi nét về tinh thần của bộ đội ta ở đơn vị bác chuẩn về tiếp quản Thủ đô Hà Nội và những cảm xúc của bác trong những ngày về tận trong lòng Hà Nội?”
Bác Bồng cười rất tươi rồi nói ngay:
“Sau khi có thông báo cho các đơn vị quân đội ta sẽ về tiếp quản Hà Nội vào ngày 10 tháng 10 năm 1954, lúc ấy  những người lính chúng tôi hân hoan vui mừng đến tột độ. Nhiều đơn vị quân đội mấy tháng trước đã tổ chức liên hoan văn nghệ vừa để ăn mừng chiến thắng Điện Biên Phủ vừa là để đón mừng ngày quân ta chiến thắng sắp trở về tiếp quản Thủ đô. Các đơn vị quân ta chuẩn bị về Hà Nội hồi đó gồm có mấy Đại đoàn rầm rập hân hoan kéo về à Nôi.  Tôi (Phan Thanh Bồng) thuộc Trung đoàn 88, Đại đoàn 308.
Lúc ấy cả núi rừng Việt Bắc cũng như các vùng miền núi Liên khu III, Liên khu IV, đều vang lên hùng tráng bài ca “TIẾN VỀ HÀ NỘI” của nhạc sĩ Văn Cao, thậm chí cả trong miền Nam cũng đã biết và thuộc bài đó rồi. Mọi người từ cán bộ chỉ huy cho đến toàn quân lính ai cũng phấn khởi và tỏ lòng khen ngợi nhạc sĩ  Văn Cao. Họ nói với nhau rằng, sao Văn Cao có linh hồn âm nhạc tài tình quá!  Nhạc sĩ đã sáng suốt tiên đoán có ngày đoàn quân sẽ tiến về Hà Nội mà lại đặt bài ca này rất  hay, rất khí thế bừng bừng và đặt sớm trước  5 năm (sáng tác từ 1949). Bây giờ thì ước mong và tiên đoán của nhạc sĩ Văn Cao đã thành sự thật 100%.  Bài ca hát lên thật là hùng tráng! Ai cũng hát say mê, sôi nổi hát đi hát lại nhiều lần trong một ngày cái thời vinh quang đó.
Xin trích đoạn bài ca TIẾN VỀ HÀ NỘI” để chúng ta cùng nhớ lại và hình dung những giờ phút hào hùng ấy:

Trùng trùng quân đi như sóng
Lớp lớp đoàn quân tiến về
 …..
 Chúng ta đem vinh quang sức dân tộc trở về
Cả cuộc đời tươi vui về đây…

Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về
Như đài hoa đón chào nở năm cánh đào
Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu!
Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần
Như mùa xuân xuống cành đường nghe gió về
Hà Nội bừng tiến quân ca!...

Bác Bồng say sưa nói tiếp: “Vào sáng ngày 10-10- 1954, quân ta trùng trùng tiến vào Thủ đô như sóng. Dân chúng Hà nội đủ mọi từng lớp hân hoan, tưng bừng đón chào đoàn quân trở về. Chúng tôi thuộc đoàn cơ giới và pháo binh do Chủ tịch Ủy ban Quân quản Hà Nội Vương Thừa Vũ và Phó Chủ tịch là BS Trần Duy Hưng đi trên xe nhà binh xuất phát từ sân bay Bạch Mai đến Ngã tư Vọng, sang Ngã tư Trung Hiền. Tiếp đó đoàn xe theo đường Bạch Mai, lên Phố Huế, qua bơ Hồ Hoàn Kiếm rôi lên đường Hàng Đào, Hàng Ngang, qua chợ Đồng Xuân đến Hàng Giấy, tới vườn hoa Hàng Đậu, theo dọc đường Phan Đình Phùng, qua Cửa Bắc vào Thành cổ Hà Nội.


Sau ngày 10-10 năm ấy, chúng tôi được lưu trú lại tại nội thành Hà Nội trong một tháng để thực hiện nhiệm vụ quân quản Thành phố. Tiếp đó đơn vị chúng tôi rút về đóng ở Thanh Trì, sau đó di chuyển đi nơi khác...”
Nghe bác Bồng kể như vậy tôi rất hứng thú và cảm thấy vui sướng vinh dự thay cho bác và tôi liền hỏi thêm:
“Xin bác cho biết những suy nghĩ của bác về những ngày trở về Thủ đô?”
Bác Bồng suy nghĩ một lúc rồi nói:
“Biết nói thế nào cho hết được cảm xúc trào lên của mình trong những ngày giờ vinh quang ấy! Thực ra lúc được về tiếp quản Thủ đô Hà Nội ai cũng có một tâm trạng có vui, có buồn cả, mà vui nhiều hơn buồn. Vui vì đất nước hết chiến tranh, hòa bình được lập lại, nhiều người lính và sĩ quan được vinh dự về giải phóng Thủ đô và chung sống giữa lòng dân một cách đầm ấm chan hòa trong cuộc sống bình yên, nhưng cũng cảm thấy buồn buồn vì nghĩ lại các đồng đội có nhiều chiến sĩ đã bỏ mình trên các chiến trường mà không nhìn thấy được ngày hòa bình của Tổ quốc. Mặt khác, cũng cảm thấy buồn vì đất nước đang tạm thời chia cắt chưa được hưởng trọn vẹn nền độc lập thống nhất đất nước. Nhiều anh em bộ đội cũng như tôi quê ở phía Nam giới tuyến sông Hiền Lương đều có chung một tâm tư như vậy”.
Bác Bồng ngừng giây lát rồi nói chầm chậm:
“Tôi còn nhớ một hình ảnh rất cảm động là có một anh bạn tôi- Trần Văn Bình- người Hà Nội cùng đơn vị tôi, vì vết thương nặng còn đau đớn dai dẳng trong thân mình, do đó phải điều trị trong quân y viện nên không được cùng đoàn quân trở về Thủ đô trong ngày tiếp quản. Vì vậy anh rất buồn và nắm tay tôi cười vui rồi nói: “Cho mình gửi lời chào Hà Nội nhé. Quê hương ơi lâu quá rồi chưa về gặp lại!...” Anh bạn ấy đưa cho tôi bức ảnh của anh chụp ở Hà Nội ngày xưa và anh đề phía sau ảnh: “Thằng Bình của bố mẹ đây, con bị ốm chưa về dịp này được. Con vẫn còn sống, bố mẹ cứ yên lòng. Bây giờ mẹ bố mẹ cứ nhìn các anh bộ đội cụ Hồ vui khỏe trở về Hà Nội là coi như có con đang về bên bố mẹ đấy, bố mẹ nhé! ”.
Sau mấy tuần thì cả đơn vị biết tin anh ấy đã qua đời trên 20 tuổi. Chúng tôi ai cũng bùi ngùi đau xót và thương tiếc cho hoản cảnh của anh ấy…”
Tôi lại tiếp tục tìm hiểu thêm về sự nghiệp của bác Bồng sau khi giải ngũ. Tôi Hỏi:
“Thưa bác, sau ngày giải ngũ thì bác làm gì và đời sống ra sao? Gia đình vợ con thế nào?”.
Bác Bồng vừa uống cà phê vừa chậm rải trả lời:
“Về cuộc đời của tôi sau khi giải ngũ quân đội thì cũng chẳng có gì đặc biệt cả. Tôi là một họa sĩ, là người thích hoạt động văn hóa- nghệ thuật nên đầu năm 1957 tôi chuyển ngành sang công tác ở đội chiếu bóng lưu động số 3. Năm 1958, tôi được đi thực tập làm phim hoạt họa tại MatcơVa. Sau đó về nước thì làm đạo diễn phim hoạt hình. Năm 1972, tôi được cử đi học Đại học Mỹ thuật. Về sau thì tôi chuyên đi sâu vẽ tranh về các đề tài thuộc Quân đội và Văn hóa-Xã hội. Cũng có một số bức tranh của tôi được tham dự triển lãm. Tôi nghĩ rằng tôi đã cố gắng làm được một số việc nhỏ để đóng góp cho đời cũng cảm thấy vui rồi. Quá trình hoạt động cách mạng của tôi cũng không có gì nổi trội lắm, cũng như bao nhiều người khác thôi. Tôi cũng được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hạng nhất.
Còn chuyện gia đình vợ con thì tôi đã có vợ và 2 con trai và có cháu đích tôn đã vào Đại học năm 2 rồi. Thế là cũng coi như sự nghiệp và gia đình là tạm yên tâm. Hiện nay tôi chẳng có điều gì phải ân hận cả, chỉ mong sao cho cuộc sống được an bình, con cháu có công ăn việc làm để bảo đảm đời sống. Được như thế là mãn nguyện mà không đòi hỏi gì hơn”.
Tôi nói với bác : “ Nguyện vọng của bác chắc sẽ thành hiện thực”. Kính chúc bác được sức khỏe, vui vẻ và thuận lợi trong đời sống.
                                                    (Hà Nội, cuối tháng 9/2012) 

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

CÂU CHUYỆN VUI NGÀY XƯA Ở HUẾ...

              BÀI THƠ VUI: “ ĐI THƠM- VỀ THÚI”  
                                   Nguyễn Hồng Trân
  Bài thơ Đường này xuất phát từ câu chuyện thực tế: “Đi thơm- về thúi” ở Huế ngày xưa mà đến nay người ta vẫn còn nhắc đến và kể cho nhau nghe cho vui. Đó là chuyện về hai cô nữ sinh trường Đồng Khánh – Huế học giỏi, có năng khiếu văn thơ và đã thi đoạt giải cao. Vua Bảo Đại biết tin và khuyến khích ban thưởng cho mỗi cô một chiếc bút Paker kèm một quyển sổ tay, đồng thời mời cho đi du ngoạn trên không gian kinh thành Huế bằng máy bay thể thao chuyên dụng của nhà vua.
Khi nhận được giấy mời vào mùa hè năm 1938, hai cô nữ sinh Hoàng Thị Bích Dư(người quê ở Quảng Trị) và Nguyễn Thị Thiếu Anh(người Hà Tĩnh) rất hân hoan sung sướng vì vinh dự được nhà vua ưu ái ban thưởng cho chuyến du ngoạn hàng không đặc biệt này. Trước khi đến sân bay Tây Lộc- Huế để  chuẩn bị cho cuộc hành trình này, cả hai cô mặc y phục và trang điểm rất đẹp đẽ và xịt nước hoa thơm lừng. Bà con, bạn bè, cô thầy giáo cũng đến tận sân bay để chứng kiện một sự kiện nhỏ có ý nghĩa này.
Chiếc tàu bay đã đậu sẵn ở sân bay. Một lát sau có chiếc xe con bóng loáng đưa nhà vua đến. Người lại xe mở cửa mời  vua Bảo Đại ra xe. Mọi người đứng xung quang vỗ tay chào nhà vua. Vua Bảo Đại vẫy tay chào mọi người và gọi hai cô Dư và Cẩm đến. Hai cô cúi đầu chào nhà vua rồi lên máy bay. Mọi người vui tươi chào tiễn vua và hai cô. Vua Bảo Đại cười vui cũng vẫy tay chào rồi ngài vào buồng lái đóng cửa lại. Máy bay khởi động chạy nhanh dần trên đường băng và cất cánh lên cao rồi liệng quanh trên bầu trời Kinh thành Huế. Hai cô sung sướng vui cười nhìn quang cảnh toàn thành phố và cả những vùng ngoại ô thật rõ ràng tuyệt đẹp… Dòng sông Hương mơ mộng hiền hòa uốn mình lững lờ trôi về biển Thuận An. Núi Ngự Bình, đồi Vọng Cảnh, các chùa chiền, lăng tẩm cứ hiện dần ra trước mắt hết danh lam này đến thắng cảnh khác như những bức tranh khổng lồ kỳ diệu. Hai cô cứ xuýt xoa, thích thú chiêm ngưỡng những cảnh đẹp thiên nhiên và nhân tạo ở Có đô Huế một cách say mê nồng nhiệt cả tâm hồn. Một hồi lâu sau nhiều vòng bay lượn trên không ngắm cảnh mặt đất, nhà vua chuyển sang mục trổ tài thể thao cho dân chúng biết. Vua bảo hai cô chằng giây an toàn qua thân để vua đổi sang kiểu bay lượn khác. Thế là vua Bảo Đại bắt đầu lái máy bay về phía Nam đến núi Ngự Bình thì nhào lộn quay máy bay về phía Bắc kinh thành bay đến An Hòa và cũng cho máy bay lộn nhào rồi quay về phía Nam đến núi Ngự Bình. Cứ như thế, nhà vua cho máy bay nhào lộn mới vài lần thì hai cô đã kêu lên vì chóng mặt bị say máy bay nên đã nôn tháo ra cả quần áo và bốc mùi chua thối ra trong khoang ngồi. Nhà vua thấy thế cũng lo cho hai cô liễu yếu đào tơ nữ sinh Đồng Khánh bị ngất xỉu, nên ngài  cho máy bay liệng chậm dần rồi hạ cánh xuống sân bay. Nhà vua mở cửa dẫn hai cô xuống máy bay ra ngoài. Hai cô lúc này mặt mũi tái xanh như bệnh nhân đang ốm. Hai cô cảm thấy xấu hổ nhưng vẫn cố gượng mỉm cười với nhà vua và cúi đầu đa tạ ngài rồi kính chào nhà vua để ra về.
Lúc đó người quản máy bay cười và nói:
“Hai cô đi thì thơm mà về thì thúi”. Chắc cũng vì nhà vua muốn lưu niệm một tình huống đặc biệt của thể thao cho các cô thấy và thử sức các cô…
Ghi chú: Câu chuyện này do nhà thơ Bích Hoàng (tức Hoàng Thị Bích Dư -cựu nữ sinh trường Đồng Khánh-Huế) kể lại cho tôi nghe trực tiếp vào đầu năm 2012 tại nhà riêng của cô ở 170 phố Cầu Giấy, Hà Nội.
-(1) Chị Thiếu- tức Nguyễn thị Thiếu Anh.
-(2) Em Dư – tức Hoàng Thị Bích Dư.
                                          NHT. Tháng 9,năm 2012


Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

"NHỮNG ÁNH SAO ĐÊM"- MỘT BÀI CA TRỮ TÌNH, SINH ĐỘNG

        “NHỮNG ÁNH SAO ĐÊM” –Một bài ca trữ tình, sinh động
                                             Nguyễn Hồng Trân -Bình luận
Bài ca “Những ánh sao đêm”  của Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu có thể nói là một vầng sáng đầy sắc màu nghệ thuật về không gian và thời gian giao thoa với tình cảm lòng người ở mọi lứa tuổi. Tôi đã hát bài này nhiều lần rồi, từ thời trai trẻ cho đến nay gìa nua tóc bạc  mà vẫn  say mê, thích thú. Tác giả đã làm say đắm lòng người bởi những điệu thức âm nhạc và ca từ thật phóng khoáng, trữ tình, sinh động nên bài ca cứ sống mãi với thời gian.
Tác phẩm nổi tiếng này Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã sáng tác vào dịp hè năm 1962. Lúc ấy cảm xúc của nhạc sĩ khi nhìn ra cửa sổ phòng mình từ trên tầng cao một khu chung cư, ông nhìn thấy ban đêm trên công trường đang xây dựng khu tập thể Kim Liên lấp lánh vô vàn ánh đèn như những ánh sao đêm tuyệt đẹp và thế là  tâm hồn nhạc sĩ rung cảm về một ca khúc mới được  hình thành  “Những ánh sao đêm”.
Ngay mấy câu đầu của bài ca cũng đã gợi lên cho ta một khung cảnh  thiên nhiên trong đêm thật huyền ảo, thi vị cho mối liên tưởng nhiều điều ước vọng của đời sống con người trong thực tế:
Làn gió thơm hương đêm về quanh khu nhà tôi mới cất xong chiều qua
Tôi đứng trên tầng gác thật cao nhìn ra chân trời xa xa
Từ bao mái nhà đèn hoa sáng ngời và  bầu trời thêm vào muôn vì sao sáng…
Tác giả đã phác họa lên một không gian và thời gian bao quát rất đẹp như một bức tranh lung linh mà những con người tạo nên rồi thưởng ngoạn về sản phẩm do bàn tay của mình làm ra cho xã hội. Và cũng từ đó cái nhìn tầm xa trải rộng bao la đến sự quan sát biến đổi gần xa trên các công trình xây dựng. Và từ những nổi niềm tâm sự ấy, tác giả liên hệ đến tình cảm riêng tư và thấy lòng mình tràn đầy niềm vui bất tận như đã hóa thân vào những chàng trai đang tâm huyết làm nghề xây  dựng lên những lâu đài cho nhân dân, cho Tổ quốc:
Tôi ngắm bao gia đình lửa ấm tình yêu Nghe máu trong tim hoà niềm vui lâng lâng lời ca
Em ơi, anh còn đi xây nhiều nhà khắp nơi
Nhiều tổ ấm sống vui tình lứa đôi
Lòng anh những thấy càng thương nhớ em

Với tình yêu thương nồng nàn, tha thiết với người yêu, người vợ như thế thì không gian và thời gian có cách trở dài lâu cũng không làm phai mờ tình cảm yêu thương chung thủy:

Dù xa nhau trọn ngày đêm
Anh càng yêu em càng hăng say

Đến đây, nhạc sĩ đã tài tình vận dụng một khúc thức nhạc điệu hào hứng vút cao lên để cho mọi người cảm thụ được một tình cảm nồng cháy đã biến thành hành động thiết thực trong nghề nghiệp dựng xây rồi lại hạ xuống cung bậc âm thanh một cách nhẹ nhàng tình tứ mênh mang, sâu lắng:

Xây cho nhà cao cao mãi...
Ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta !
Anh lắng nghe bao lời ân ái
Những bài tình ca …

Trong đoạn thứ hai, tác giả đưa chúng ta liên tưởng đến miền Nam ruột thịt trong cảnh nước nhà còn chia cắt  đôi miền mà chính tác giả cũng như bao người quê ở bên kia giới tuyến đang chờ mong được ngày đoàn tụ và những chàng trai yêu nghề xây dựng ấy sẽ về Nam để xây lên những ngôi nhà to đẹp cho quê hương trong cảnh thanh bình, đổi mới, trong bầu trời tràn đầy ánh sao đêm thân thương,thơ mộng:

Lòng nhớ thương quê hương miền Nam
anh hằng tha thiết ước mong ngày mai
Anh sẽ đi về khắp làng quê
xây những ngôi nhà tương lai
Dòng sông mát xanh chảy quanh phố phường
Và nhiều công trường xây niềm vui mới

Khi bóng đêm trở về rực ánh đèn lên
Em thấy như muôn ngàn vì sao thêu trong đêm tối…

Nhưng sự liên tưởng và hy vọng ấy của tác giả về một tương lai của miền Nam thống nhất hòa bình vẫn còn xa xôi, vì thế nên đành phải tìm cách động viên người thân yên lòng chờ đợi. Tình cảm thủy chung son sắt của chúng ta sẽ không có gì làm phai mờ được:
Em ơi tuy giờ đây hai miền còn cách xa
Niềm chia cắt thắt đau lòng chúng ta
Nhưng không thể xóa được hình bóng em

Và đoạn cuối cùng của bài ca này, nhạc sĩ đã cho điệp khúc nhấn mạnh lại một hình tượng cao đẹp của tình yêu thành sức sống và niềm tin vững vàng đã thấm sâu vào con tim bản tình ca bất diệt:
Dù xa nhau trọn ngày đêm,
Anh càng yêu em càng hăng say…

xây cho nhà cao cao mãi …
Ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta
Anh lắng nghe bao lời ân ái những bài tình ca.

Khi hát lại bài này để cùng nhau nghe thì ai cũng có một cảm xúc thâm tình trìu mến, thân thương và muốn hòa cùng nhịp sống yêu đời với những người làm nghề xây dựng. Chúng tôi rất yêu thích ca hát. Mỗi lần ca lên bài “NHỮNG ÁNH SAO ĐÊM” của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu là chúng tôi cứ rạo rực trong lòng và càng cảm thấy yêu thương vô cùng những chàng trai xây dựng và lại càng nhớ nhung, biết ơn nhạc sĩ  Phan Huỳnh Điểu đã cho chúng tôi được thưởng thức một bài ca tuyệt vời cứ sống mãi với thời gian.
Kính chúc cho tuổi già của nhạc sĩ được sức khỏe để nghe lại các con cháu hát lên những lời ca trữ tình, sinh động tuyệt vời ấy.
                   Phủ Cam, Phước Vĩnh, tp. Huế  tháng 9 năm 2012