Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

       TRÊN ĐỒI XỨ PHẬT LINH
                   ==00==       
Tượng ngựa trên đồi xứ Phật linh
Ai qua cũng ngắm gửi tâm tình:
Cầu mong đất nước luôn yên ổn
Ước vọng nhân dân được thái bình
Đạo đức sáng trong không giảm sút
Tinh thần vững chắc mãi trường sinh
Tri ân sâu nặng còn muôn thuở
Phúc ấm cao dày thật hạnh vinh!...
                      Nguyễn Hồng Trân

         Hà Nội xuân năm Giáp Ngọ-2014

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

             CHUYỆN CON NGỰA CỦA ANH KIỀN
                         (Nguyễn Hồng Trân)
                              ==00==
Tại làng Thượng Xá thuộc xã Hải Quang(nay là Hải Thượng), huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị ngày xưa có anh Phan Kiền làm liên lạc cho Ủy ban huyện sau ngày cách mạng tháng Tám năm 1945. Công việc của anh phải đi lại nhiều. Thỉnh thoảng có công văn “khẩn”, anh ấy phải chạy bộ nhanh cho kịp. Thấy anh vất vả với công việc, UB đã tậu cho anh một con ngựa để đi lại thuận tiện. Vì hồi ấy rất hiếm xe đạp nên anh phải quen dần với chuyện cỡi ngựa đi thực hiện nhiệm vụ liên lạc.
 Từ đó, anh Kiền làm thân với con ngựa và chăm sóc nó rất chu đáo. Con ngựa xám này anh đặt tên là con Côn-Côn. Con Côn-Côn này cũng khôn ngoan và tình nghĩa với anh Kiền lắm. Phải nói rằng, trên đời này có con ngựa và con chó là hai con vật nuôi rất khôn và biết nghe lời chủ, sống có tình với chủ nó. Khi chủ nó vuốt ve vào trên bờm nó và nói thì nó nghe và hiểu.
Tôi còn nhớ có một lần anh Kiền cỡi ngựa về quê ăn Tết năm Bính Tuất (1946), anh buộc nó vào gốc mít sát đụn rơm, nó vói cổ sang đưa lưỡi kéo rơm ra đưa vào mồm nhai nhai ngon lành. Bọn trẻ con trong xóm thấy lạ kéo nhau đến xem con ngựa và cười vui thích thú. Anh Kiền nói với mấy đứa trẻ: “Đây là con ngựa đực rất hùng dũng và tốt bụng. Đứa nào thích cỡi ngựa chú cho trèo lên lưng ngựa cỡi chạy một vòng đến đồi cát rồi quay về?”.
Nghe chú Kiền hỏi vậy, đứa nào cũng thích nhưng không giám nói ra. Vì nếu không biết trèo lên ngựa và không biết điều khiển ngựa thì dễ bị nó hất té ngã xuống đường thì khổ thân. Thấy có 6,7 đứa trẻ cả nam lẫn nữ cứ nhìn chú Kiền rồi vui vẻ nói:
“Chú ơi, chú cho mấy đứa cháu ngồi sau lưng chú dạo chơi một vòng được không?”. Chú Kiền cười và nói: “chuyện đó dễ thôi, mỗi lần ngồi sau lưng chú hai đứa, một trai, một gái. Trai ngồi sau lưng gái mà ôm vào cho chặt, con gái ngồi sau lưng chú cũng ôm vào thắt lưng chú cho chặt để khi ngựa chạy không bị văng rơi xuống đất, nghe chưa?”.
Cả bọn con trai đồng thanh dạ to, còn mấy đứa con gái thì im lặng, vì ái ngại về chuyện để cho con trai ôm chặt vào mình thì ngượng lắm...
Thế nhưng rồi mọi chuyện lại thấy êm đềm, không thấy đứa con gái nào ngượng ngùng gì cả mà chỉ thấy đứa nào cũng thích thú. Anh Kiền vui lắm. Mấy hôm ngày Tết, anh Kiền cỡi ngựa đi thăm bà con, bạn bè khắp trong thôn xóm trông rất oai hùng. Đi đến đâu là bọn con nít chạy theo sau cười vui rộn ràng, làm anh kiền càng thêm hứng thú.
Đến đầu năm 1947, trong một chuyến đi công tác miền Tây Quảng Trị, anh bị đạn đại bác của giặc Pháp bắn lên làm anh bị thương và rơi xuống ngựa. Con ngựa quay lại rồi nằm bên cạnh anh đưa lưỡi liếm liếm vào trán anh như thông cảm. Khi anh tỉnh lại, anh vẫn đau chân không sao trèo lên được lưng ngựa để về cơ quan. Con ngựa liền nằm xuống nghiêng lưng nó sát bên người anh để anh dùng hai tay bám vào lưng nó rồi nó từ từ đứng dậy và đi nhẹ nhàng đưa anh về được cơ quan ở vùng Tân Lệ (dưới chiến khu Ba Lòng).
Anh Kiền kể lại rằng, sau khi anh lành vết thương, ra viện về cơ quan gặp lại con Côn-Côn thì nó mừng lắm. Nó cứ nhảy qua, nhảy lại, hít hít vào đầu anh, má anh rồi hí hí, reo vang lên náo động và vẩy đuôi tỏ vẻ mừng vui thấy chủ đã trở về...
Vài hôm sau có chú Nguyễn Hương (người thị trấn Diên Sanh) là cán bộ Văn hóa truyên truyền của huyện cũng cỡi một con ngựa ô đến cơ quan. Thế là con Côn-Côn thấy có bạn gái đến liền hí vang lên mừng vui như lâu ngày mới gặp lại bạn tình. Chú Hương và anh Kiền hiểu ý hai con ngựa của mình nên đến mở dây buộc để thả cho hai cô chú ngựa dạo chơi một lúc trên mé đồi phía Nam sông Thạch Hãn.
Mùa hè năm 1947, giặc Pháp đi càn, con ngựa Côn-Côn bị Tây bắn chết cùng hàng chục con trâu bò của các gia đình nông dân vùng này. Mọi người dân đều căm tức lũ giặc hại dân và rất thương tiếc đàn trâu bò bị chết thì mùa sau không có sức kéo để cày bừa làm ăn thời vụ. Nhìn thấy cảnh trâu bò chết la liệt nằm ngổn ngang ngoài đồng, ai cũng động lòng than khóc. Anh Kiền cũng khóc theo và rất tiếc cho con ngựa tinh thần gần gũi của anh. Anh không cho họ mổ thịt như những con trâu bò mà anh lo chôn cất nó thật chu đáo và còn thắp hương trước ngôi mộ của nó nữa. Anh còn lấy một tảng đá đặt trên mộ rồi khắc dòng chữ “Côn-Côn của Phan Kiền, ta nhớ mãi!” để kỷ niệm như một người bạn thân đã lìa đời.
  (Nhân năm Giáp Ngọ-2014, kể chuyện ngựa của NHT)                                                    

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

     NGÀY EM TRỞ VỀ
                                        
Em đã trở về cuối chiến tranh
Vui mừng vẫn sống được an lành
Bao năm khổ trí không lùi bước
Mấy dạo đau lòng gắng vượt nhanh
Lửa đạn quân thù thiêu đốt sạch
Mưa bom lũ giặc phá tan tành
Nhưng không diệt được tình yêu nước
Đất Việt anh hùng rất xứng danh!...
                         Nguyễn Hồng trân

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

NHỮNG NGÀY TẠM BIỆT QUÊ HƯƠNG …                      
                                ==00==
     (Trích Hồi ký “DÒNG ĐỜI TÔI”  của Nguyễn Hồng Trân)

Những ngày cuối cùng lưu lại quê hương xóm làng, tôi thấy buồn buồn vì phải sắp rời xa tổ ấm gia đình, nhưng tôi vẫn cố gắng vui lên và lao động giúp mẹ thêm vài ngày cho mẹ yên lòng. Thế rồi trong một buổi sáng sớm, tôi vác cái cày và dắt trâu đi cày vùng đồi cát xứ Rú Hộp (Thượng Xá )để trồng khoai lang. Tôi vừa mới ra cổng thì gặp người bạn gái từ làng Thi Ông lên thăm. Đó là bạn Võ thị Hy (con ông Cửu Hiến). Thế là Hy vào nhà chào hỏi thăm mẹ tôi rồi xin phép cùng đi giúp tôi lao động luôn. Sau khi tôi cày xong đất và trổ đường cày thành từng luống thì bạn Hy nhặt cỏ, bỏ phân, tôi đánh luống rồi cùng nhau trồng khoai. Chúng tôi vừa trồng vừa chuyện trò với nhau vui vẻ.  
Lúc nghỉ giải lao, hai đứa ngồi dưới gốc cây uống nước nhìn nhau vui cười hồn nhiên của tuổi đời 15,16 giữa chốn đồi quê thanh bình... Bỗng nhiên thấy Hy kêu lên vì bị con rết to cắn vào bắp chân. Tôi hốt hoảng liền co ngón tay trỏ búng bật con rết ra và lấy chiếc dép đập chết con rết ngay, rồi dùng nước bọt bôi vào vết cắn. Tiếp đó tôi lấy giây quai nón của Hy buộc chặt phía trên đó. Hy đau quá khóc rên. Tôi rất thương và động viên cô: “Hy yên tâm, rồi sẽ hết đau thôi. Bây giờ Hy sẽ cho tôi cõng Hy về nhà để cứu chữa tiếp”. Nghe nói tôi cõng Hy, cô bạn thẹn thùng, bẽn lẽn... Lúc đầu cô không chịu, nhưng rồi đành phải chịu một cách xấu hổ mà trong lòng cảm thấy vui sướng vì có được hơi ấm của người bạn trai chiều chuộng...
Về tới nhà mọi người xúm quanh hỏi han, tôi liền chạy đi tìm hạt vông đặt vào vết đỏ. Sau đó, tôi bắt con gà trống và thò ngón tay vào mỏ gà lấy nước bọt của nó bôi mấy lần vào vết thương. Vài giờ sau, Hy đỡ đau nhức và khá dần. Cả nhà tôi mừng quá. Đến chiều tối thì Hy xin phép mẹ tôi ra về. Mẹ tôi nói Hy ở lại cho hết đau chân rồi về. Cô ta nhìn tôi cười và nói:
“Hy chưa xin phép cha mẹ ở lại qua đêm nên Hy phải về thôi. Mong dịp khác...”.
Thế là tôi tiễn Hy ra về trên một đoạn đường làng qua cánh đồng. Dọc đường đi chúng tôi nói với nhau những điều đơn sơ dễ chịu và hai đứa hiểu nhau theo cảm nhận của lòng mình... Lúc chia tay, Hy nhìn tôi thân thiết và nói:
“Anh Trân ra Bắc, khi mô biên thư về gia đình thì nhớ hỏi thăm em với nghe!”
Ôi ! một lời nhắn nhe sao mà rụt rè dễ thương đến thế! Tôi liền gật đầu với Hy rồi nói ngay: “Trân sẽ viết thư riêng thật dài cho Hy được không? Bây giờ Hy cầm tờ lịch này về nhà hãy đọc và giữ lấy nhé”. Tôi đưa cho cô tờ lịch đúng vào ngày Rằm trung Thu năm Giáp Ngọ (1954). Phía sau tờ lịch tôi chỉ ghi mấy câu thơ:
Thương người bạn gái đến thăm tôi.
Gặp gỡ làm sao nói hết lời !
Hẹn đển hai năm ta gặp lại ,
Cho nhau biết hết nỗi buồn vui....
Đôi mắt Hy ươn ướt nhìn tôi mỉm cười rồi quay đi nhanh. Tôi nhìn theo em xa dần trên đường quê vắng lặng và bóng dáng mái tóc đen dài của em đang rung rinh nhẹ nhàng trong gió chiều lộng mát ở làng quê.
Ngày hôm sau tôi đến thắp hương trên mộ ba tôi, mộ cố bà tôi rồi vào thăm ông nội tôi ở Diên Sanh để tạm biệt. Tôi ở lại với ông nội tôi một đêm để chuyện trò với ông trước lúc ra Bắc. Ông nói nhỏ nhẹ với tôi:
“Thế là ông cháu ta phải sắp xa nhau 2 năm. Ông không có mạng được sống gần con trai và cháu trai; ông cũng không có mạng truyền nghề thầy thuốc cao quý này cho một đứa con nào, một cháu nào cả. Thật là tiếc! Thật là bạc phúc! Ông buồn lắm cháu ạ ! Nhưng biết làm sao được. Ông không muốn cháu vắng tình thương của ông”.
Nói xong, ông lặng thinh lấy khăn lau mi mắt. Lúc này tôi vô cùng cảm động, ngậm ngùi rồi ôm chặt thân hình ông, nghẹn ngào không nói năng chi được. Một lát sau, tôi chỉ nói được vài câu ngắn gọn với ông: “Ông cố giữ gìn sức khỏe nhé. Cháu luôn được khỏe mạnh rồi sẽ về với ông. Ông cứ yên tâm, cháu ra Bắc sẽ gặp các chú Bân, chú Quỳnh, các chú sẽ dạy bảo, dìu dắt cháu học hành thành đạt cho ông vui lòng”. Ông im lặng gật đầu rồi khuyên tôi đi ngủ sớm.
Đêm hôm sau về lại nhà tôi, tôi và mẹ tôi không sao ngủ được. Tôi lo cho sức khỏe của mẹ tôi từ lâu hay đau ốm mà tôi thường vào ông nội xin thuốc Bắc về sắc thuốc cho mẹ uống. Bây giờ trở đi, vắng tôi, không biết các em tôi có lo việc đó thay tôi được không? Còn mẹ tôi thì chắc lo cho tôi ra Bắc không biết có chịu nổi rét lạnh được không? Có học bổng để ăn học cho đến nơi đến chốn không? Mặc dù trước lúc đi mẹ tôi cũng đã vay mượn tích góp được một số tiền, ông nội tôi cho thêm tiền nữa là dự tính cũng đủ cho tôi ăn học trong hai năm ở miền Bắc. Sau đó sẽ về quê hương.    
Sáng hôm sau, mẹ tôi tiễn tôi lên vùng Trấm Chuối để tập trung với đoàn đi. Đoàn tôi đi tự do không thành tổ chức đơn vị mà do một bác cán bộ có kinh nghiệm dẫn đường (bác Nguyễn Thược thôn Đại Nại). Trong đó có mấy người tôi quen biết như anh Thại (em chị Thừa-Long Hưng), bạn Châu (em chị Cầm -con ông Thừa Vũ thôn Phường Sắn)... Ngày hôm sau, chúng tôi gọn gàng hành trang lên đường đi bộ ra phía Bắc giới tuyến 17 đến vùng thị trấn Hồ Xá. Dọc đường đi, tôi có tranh thủ biên thư về cho mẹ tôi và động viên mẹ yên lòng.
Trong đó có mấy câu thơ:
Tạm biệt mẹ, con xa quê,
Hai năm thống nhất con về mẹ ơi.
   Chiến tranh bom đạn qua rồi,
Mẹ đừng lo nữa cho đời yên vui.
                ==00==

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

    MỘT NĂM QUA RỒI,
MỘT NĂM ĐẾN HỠI BẠN ƠI!
                  ==00==

Thế là một năm đã trôi qua, năm 2014 đến nối tiếp. Từ năm 1976 đến 2013, gia đình chúng tôi đón chào năm mới tại Cố đô Huế. Hiện nay, chúng tôi đã chuyển dời ra sinh sống với con cháu ở Hà Nội nên đón chào năm mới 2014 tại Thủ đô Hà Nội. Cuộc đời tôi cũng đã từng đón chào năm mới ở nhiều nơi trên đất Việt cũng như ở nước ngoài. Nơi nào cũng vậy, năm mới đến là không khí ở thành thị và thôn quê đều rộn ràng, hân hoan mừng năm mới. Những gì buồn vui trong một năm qua đều gác lại để chuẩn bị đón một mùa xuân vui tươi, đầm ấm với gia đình, bà con, bạn bè, thân thuộc v.v…
Đầu năm mới, mọi người đều cầu chúc cho nhau sức khỏe được tăng cường, tình thương thêm gắn bó và có thêm nhiều điều may mắn, thuận lợi trong công việc và đời sống.

Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

             LỜI CHÀO NĂM MỚI 2014
                            ==00==

Hồng Trân xin chào quý vị bà con và bạn bè quen biết!
Năm 2013 đã qua, năm 2014 đến rồi đó.
Chúng ta ai cũng mong muốn sao cho năm mới này sức khỏe được tăng lên, có thêm nhiều niềm vui mới, mọi việc được thuận lợi trong sự nghiệp và đời sống.
Hãy rút kinh nghiệm một năm qua để năm nay phấn đấu phát triển thành công những hoạt động vì lợi ích bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Thân ái xin chào quý vị!
Hẹn gặp nhau trên mạng xã hội Facebook để cùng nhau chia sẻ, cảm thông những nỗi niềm nhân ái.

Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013

            CHÚC MỪNG LỄ GIÁNG SINH
                                  ==00==

Hồng Trân xin chúc tất cả bà con, bạn bè gần xa hãy vui tươi hưởng mùa Giáng sinh thật đầm ấm, hạnh phúc.
Sau đây Hồng Trân xin gửi tặng một bài thơ:

ĐÊM NÔ-EL NGÀY ẤY
         NHỚ HOÀI                                             

Nhà thờ rộn rã tiếng chuông
Ngân vang rung động tâm hồn con chiên
Nhìn lên Đức mẹ dịu hiền
Ngồi trong hang đá sát bên hài đồng
Bên ngoài giá rét mùa đông
Tiếng kinh cầu nguyện ấm lòng thân thương
Lòng ta nhớ mãi quê hương
Nô-el năm ấy Thiên đường tối tăm
Thánh địa đức mẹ La Văng
Đạn bom dữ dội tan hoang cửa nhà
Nhớ lại bao chuyện đã qua
Lòng ta cứ mãi xót xa chuyện đời
Giáng sinh ngày ấy lâu rồi
Nay không còn nữa cái thời chiến tranh
Cầu mong dân được an lành
Chung vui đêm lễ GIÁNG SANH  tưng bừng…
                    Nguyễn Hồng Trân

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

                   CHUYỆN VỀ KẸO CU- ĐƠ HÀ TĨNH
                                            ==00==
                                         Nguyễn Hồng Trân  
 Ngày Nay, nhiều người đi xe ngang vùng Cầu Phủ (thị xã Hà Tĩnh) thường ghé lại mấy quán bán kẹo Cu –Đơ để mua vài gói làm quà. Cửa hàng nào ở đây cũng treo biển hiệu “Kẹo Cu –Đơ chất lượng”, “Kẹo Cu –Đơ đặc biệt”, “Kẹo Cu –Đơ chính gốc” v.v…
Thực ra kẹo Cu Đơ ở Cầu Phủ là mới có thương hiệu sau này mà thôi, nhưng kẹo chưa ngon, còn nhạt nhẽo và không được mềm dẻo như kẹo Cu-Đơ ở Hương Sơn mà chúng tôi đã từng ăn từ thuở xa xưa của tuổi học trò. Xuất xứ lâu đời nhất về loại kẹo này đầu tiên là tại vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh. Đây là một loại kẹo lạc(đậu phụng) mà thôi, nhưng quy trình nấu và nguyên liệu thì có khác đôi chút. Kẹo lạc thông thường thì nấu có 3 thứ nguyên liệu chính: đó là đường, đậu lạc hột, bánh tráng(bánh đa), và phụ gia là nước gừng hay dầu chuối, nhưng kẹo Cu –Đơ thì không nấu bằng đường mà nấu bằng mật mía, nên mềm dẻo và thơm ngon.
Người ta đồn rằng, loại kẹo Cu –Đơ nấu ngon nhất là vùng huyện lụy Hương Sơn trên bờ sông Ngàn Phố. Hồi xưa, mới đầu người ta chỉ nói là kẹo lạc của nhà cụ Hai ở Thịnh Xá, là ngon có tiếng. Sau đó có một sự tích mà trở thành tên gọi là “kẹo Cu –Đơ”. Có lẽ do người Pháp đã tạo nên tên gọi đó. Vì tiếng Pháp đọc chữ cụ thành “Cu”, chữ Hai coi như số 2(deux) và đọc là  “Đơ”. Trong sách xưa đã kể lại rằng:
Nghe lưu truyền rằng, từ thời Pháp thuộc,một vị người Pháp đi qua Hà Tĩnh,ông lên dọc sông Ngàn Phố để khảo sát cảnh quan sông núi và thôn quê. Những người dân mời ông một bát nước chè xanh nóng và mời ăn miếng kẹo bọc trong tấm lá chuối khô, ông Pháp đó cũng cầm miếng kẹo và ăn ngon lành, rồi uống nước chè xanh, sau phút ngỡ ngàng ông ta thốt lên:
“Délicieux!” (ngon tuyệt vời).
 Sau đó ông ta hỏi về nguồn gốc loại kẹo bánh ngon kì lạ này và qua người thông dịch, người dân chỉ cho vị này nhà cụ Hai (làng Thịnh Xá, Hương Sơn) nơi đã sản xuất loại kẹo này. Vị người Pháp muốn tìm về nhà ông cụ Hai để xem cách nấu bánh kẹo của cụ. Sau đó ông ta mua hết thảy số bánh kẹo mà ông cụ đang có để về làm quà cho bạn bè và người thân.
Vị người Pháp này mua kẹo của ông cụ Hai bỏ vào hộp và về đề tên Gâteau de CU DEUX (bánh CU-ĐƠ) lên trên mỗi hộp mà ông gửi tặng bạn bè ở Paris, từ “de” trong tiếng Pháp dưới tên dòng tộc như là biểu hiện dòng dõi quý tộc”.
 Từ đó lan truyền ra chính thức cái tên kẹo CU- ĐƠ ngộ ngộ, vui vui này. Có người còn nói tếu là kẹo HAI CU, hoặc kẹo HẠI CU.
Có mấy người bạn từ Hà Tĩnh ra thăm nhà thơ Bút Tre và mời ăn kẹo Cu-Đơ –đặc sản của Hà Tĩnh. Bút Tre(tên thật là Đặng Văn Đăng) rất vui, vừa uống nước chè xanh, vừa ăn ngon lành miếng kẹo. Ăn xong ông vui cười ngâm nga câu một câu  rất khôi hài cho bạn bè nghe:
Không ăn không biết CU ĐƠ,
Ăn rồi mới biết nó đờ cu ra!….

Mọi người nghe vậy cười ồ lên. Có người hỏi thêm nhà thơ:
“Đề nghị nhà thơ giải thích từ “đờ”trong câu thơ?”.
Bút Tre cười rồi nói ngay:
“Ai muốn hiểu từ “ đờ” thế nào cho vui cũng được cả”.
Thế là mọi người vui vẻ, cứ đọc đi, đọc lại câu thơ của Bút Tre và cười thoải mái…
                           

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

            ĐÊM ĐÔNG MONG NHỚ
                         ==00==
Đêm đông lạnh, vắng em càng lạnh
Chăn gối buồn, hiu quạnh nhớ em
Chập chờn giấc ngủ không yên
Ngoài hiên lá rụng tưởng em đang về!...

Ôi, đơn độc ê chề nhung nhớ!
Nằm thao thức trăn trở tỉnh mê
Nỗi buồn man mác tái tê
Mong em sớm được trở về bên anh.
                       ==00==
Ghi chú: Bài thơ này tôi viết từ mùa đông năm 1973, khi vợ tôi là bác sĩ Thái Lê Phương đang phục vụ công tác y tế thời còn chiến tranh ở chiến trường Trị Thiên.Lúc ấy tôi đang ở Hà Nội và chúng tôi chưa có con. May sao, sau khi hòa bình thống nhất nước nhà năm 1975, vợ tôi vẫn còn sống trở về đoàn tụ được gia đình. Thời gian trôi đi nhanh quá! Thế mà đến nay đã tròn 40 năm. Tôi nhớ mãi bài thơ ấy và đưa lên trang mạng cá nhân của mình để bạn bè khắp nơi cùng chia sẻ.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

   NELSON MANDELA-NGƯỜI ANH HÙNG CỦA THẾ GIỚI
                                  ==00==
Nelson  Mandela sinh ngày 18 tháng 7, 1918 và mất ngày 5 tháng 12, 2013) là Tổng thống Nam Phi từ năm 1994 đến 1999, và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu. Trước khi trở thành tổng thống, Mandela là nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc), và là người đứng đầu trong phái vũ trang của Đảng Quốc Đại (ANC). Vào năm 1962 ông bị bắt giữ và bị buộc tội phá hoại chính trị cùng các tội danh khác, và bị tuyên án tù chung thân vào ngày 12 tháng 6 năm 1964. Mandela đã trải qua 27 năm trong lao tù, phần lớn thời gian là ở tại Đảo Robben. Trong thời gian ở trong tù, ông còn học được bằng Cử nhân luật thuộc Đại học Lôn Đôn (Chương trình dạy từ xa) để nắm được những kiến thức cơ bản về luật Quốc gia cũng như Quốc tế mà đấu tranh cho hợp pháp.
Sau khi được trả tự do vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, Mandela đã lãnh đạo đảng của ông trong cuộc thương nghị để tiến tới một nền dân chủ đa sắc tộc vào năm 1994. Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình từ năm 1994 đến 1999, Mandela thường ưu tiên cho vấn đề hòa giải dân tộc.
Nelson  Mandela là tấm gương sáng chói của tinh thần chịu đựng gian khổ để đấu tranh chống lại mọi sự áp bức, phân biệt chủng tộc và ông không ngừng đấu tranh cho hòa bình thế giới và được cả nhân loại kính phục và mến mộ. Cuộc đời hoạt động của ông vì dân vì nước vì hòa bình tư do, dân chủ của mọi tầng lớp lao động, đã được các tổ chức quốc tế đã đánh giá cao về phẩm chất đạo đức của ông và đã dành nhiều giải thưởng cho ông.
Nelson Mandela đã nhận hơn 250 giải thưởng trong hơn bốn thập niên, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993.
Khi nghe tin ông Mandela từ trần, nhiều nước treo cờ rũ tỏ lòng thương tiếc. Có một số nước như Anh, Pháp, Nhật đã cho đúc tượng ông, đặt tên đường, đặt tên trường học… để lưu niệm, tôn vinh ông –một con người vĩ đại rất xứng đáng cho nhân loại kính phục yêu thương.
Nelson  Mandela thật là xứng đáng là người anh hùng của thế giới. Ông mất đi để lại niềm thương tiếc vô hạn trong lòng dân khắp trên toàn cầu. Mandela giờ đây không còn nữa, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn sống mãi trong trái tim mọi người.
                                        Nguyễn Hồng Trân