Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015


  CÁCH TÌM BỔN MẠNG TUỔI VỚI NGŨ HÀNH
           THEO QUY TẮC LỤC GIÁP NẠP ÂM
             (Do Nguyễn Hồng Trân -tạo lập quy tắc này 
để tìm đúng danh vị tuổi bổn mạng ứng với trong ngũ hành)
 1.Tý * 2.Tuất * 3.Thân  
 4.Ngọ * 5.Thìn * 6.Dần         
 Xem lòng bàn tay trái như môt hình ngũ giác được ký hiệu GÂ (là Giáp Ất từ góc bên phải phía trên) rồi vòng theo chiều kim đồng hồ lần lượt BĐ (Bính Đinh), MK(Mậu kỷ), CT(Canh Tân), NQ(Nhâm Quý).            
Quy tắc định vị ngũ hành bổn mạng theo quy luật đầu rẽ, giữa ra, cuối vào: theo chiều kim đồng hồ để xác định.1và 4 là đầu; 2 và 5 giữa; 3 và 6 cuối-Thực hiện theo hình ngũ giác nêu trên.
Chú ý: đầu(1,4) là rẽ quay thuận lui cạnh kế sau để xác định thuộc hành nào.
     Định danh loại tuổi
Ngũ hành
Biểu tượng danh vị
 Nghĩa Việt ngữ
Canh Tý   -  Tân Sửu
Thổ
Bích thượng Thổ =
Đất trên vách
Canh Ngọ -  Tân Mùi
Thổ
Lộ bàng Thổ =
Đất ven đường
Nhâm Tý  -  Quý Sửu
Mộc
Tang đố Mộc =
Gỗ cây dâu
Nhâm Ngọ - Quý Mùi
Mộc
Dương liễu Mộc =
Gỗ cây dương liễu
Giáp  Tý  -   Ất Sửu 
Kim
Hải trung Kim =
Vàng trong biển
Giáp Ngọ -   Ất Mùi
Kim
Sa trung Kim =
Vàng trong cát
Bính Tý   -    Đinh Sửu
Thủy
Giản hạ Thủy =
Nước dưới khe
Bính Ngọ -   Đinh Mùi
Thủy
Thiên hà Thủy =
Nước mưa
Mậu Tý   -    Kỷ Sửu
Hỏa
Tích lịch Hỏa =
Lửa sấm sét
Mậu Ngọ  -   Kỷ Mùi
Hỏa
Thiênthượng Hỏa=
Lửa trên trời




Canh Tuất   -  Tân Hợi
Kim
Thoa xuyến Kim=
Vàng trang sức
Canh  Thìn-  Tân  Tị
Kim
Bạch lạp Kim =
Vàng chân đèn sáp
Nhâm Tuất -  Quý Hợi
Thủy
Đại hải Thủy =
Nước Đại dương
Nhâm  Thìn- Quý Tị
Thủy
Trường lưu Thủy=
Nước sông dài
Giáp  Tuất-   Ất Hợi 
Hỏa
Sơn đầu Hỏa =
Lửa trên đỉnh núi
Giáp  Thìn-   Ất Tị
Hỏa
Phúc đăng Hỏa =
Lửa đèn lồng
Bính Tuất  - Đinh Hợi
Thổ
Ốc thượng Thổ =
Đất trên nền nhà
Bính Thìn -  Đinh Tị
Thổ
Sa trung Thổ =
Đất trong cát
Mậu Tuất   - Kỷ  Hợi
Mộc
Bình địa Mộc =
Gỗ đồng bằng
Mậu Thìn  -   Kỷ Tị
Mộc
Đại lâm Mộc =
Gỗ rừng lớn
     Định danh loại tuổi
Ngũ
hành
Biểu tượng danh vị
 Nghĩa Việt ngữ
Canh Thân  - Tân Dậu
Mộc
Thạch lựu Mộc =
Gỗ cây thạch lựu
Canh Dần  -  Tân Mão
Mộc
Tùng bá Mộc =
Gỗ cây tùng bách
Nhâm Thân - Quý Dậu
Kim
Kiếm phong Kim=
Vàng đầu kiếm
Nhâm Dần - Quý Mão
Kim
Kim bạch kim =
Vàngtrắng:Bạch K
Giáp  Thân-  Ất Dậu
Thủy
Tuyềntrung Thủy=
Nước trong suối
Giáp Dần -   Ất Mão
Thủy
Đại khê Thủy =
Nước khe lớn
Bính Thân - Đinh Dậu
Hỏa
Sơn hạ Hỏa =
Lửa dưới núi
Bính Dần -  Đinh Mão
Hỏa
Lô trung Hỏa =
Lửa trong lò
Mậu Thân -  Kỷ Dậu
Thổ
Đại trạch Thổ =
Đất đồng lớn
Mậu Dần  -   Kỷ Mão
Thổ
Thành đầu Thổ =
Đất trên thành
   
Phương pháp LỤC GIÁP NẠP ÂM theo Địa Chi này đã mở rộng có kết hợp Can và Chi giúp ta có thể xác định được các mốc thời gian của từng thập kỷ(10 năm) với các Can Chi một cách chính xác mà không bị sai sót, nhầm lẫn. Một quy tắc đơn giản (Đầu rẽ, giữa ra, cuối vào = tức rẽ cách một đỉnh trong khuôn hình ngũ giác nêu trên rồi nhập thuận vào cạnh tiếp nối với cạnh kề gốc Can; còn các Chi giữa ra, cuối vào ra đều theo chiều thuận các cạnh hình đó). Điều này giúp ta tính được Can Chi những năm cách nhau một thập kỷ được dễ dàng. Muốn vậy, ta phải hiểu rằng, vòng Thiên Can là 10 năm, còn vòng Địa Chi là 12 năm. Bội số chung của hai vòng này là 60 năm. Nghĩa là sau 6 thập kỷ thì trùng lại tuổi có Can Chi như nhau,nhưng số tuổi khác nhau. Một điều cần lưu ý thêm là trong 10 Thiên Can, cứ mỗi Can ứng với một số cuối của số biểu năm Dương lịch như sau: Canh-0, Tân-1, Nhâm-2, Quý-3, Giáp -4,Ất-5, Bính -6,Đinh-7,Mậu -8,Kỷ -9; Ví dụ: năm 1948 là năm thuộc Can Mậu. Muốn biết thuộc Chi nào thì phải chia biểu số năm Dương lịch số cho 12, còn số dư, ta đem trừ đi 3 rồi đối chiếu với dãy 12 Chi: 1-Tý, 2-Sửu, 3-Dần, 4-Mão, 5-Thìn, 6-Tị, 7-Ngọ, 8-Mùi, 9-Thân, 10-Dậu, 11-Tuất, 12-Hợi. Như ví dụ trên, ta chia 1948 cho 12, còn dư 4, trừ 3, còn lại 1. Thế là ứng với Chi Tý. Vậy năm 1948 là năm Mậu Tý. Nhưng phải lưu ý rằng, số biểu năm Dương lịch phần nhiều là đi trước năm Âm lịch 1-2 tháng. Vì vậy, những mốc sự kiện sau tháng 2 Dương lịch thì ta mới dùng số biểu để tính như nói trên.
Ngoài ra, ta có thể tính theo quy tắc Lục giáp với hình ngũ giác nêu trên thì cũng thuận tiện mà không phải làm phép chia.

Ví dụ: Ta thử dùng năm Can Mậu với lục giáp nói trên: TÝ-TUẤT-THÂN; NGỌ-THÌN-DẦN.
Ta biết rằng Can Mậu ứng với số cuối cùng của số biểu năm Dương lịch là 8. Chẳng hạn ta lấy năm Mậu Thân =1968 thì lần lượt đến năm 1978 là Mậu Ngọ; năm 1988 là Mậu Thìn; năm 1998 là Mậu Dần… Đó là phép tiệm cận tính tới sau. Ta có thể tính lùi lại phía trước thì cũng theo thứ tự lùi trong Lục giáp đó Cụ thể với năm 1958 là năm Mậu Tuất; năm 1948 là Mậu Tý; năm 1938 là năm Mậu Dần; năm 1928 là năm Mậu Thìn v.v…
Bằng cách như thế, ta có thể tính Can Chi của những năm khác cũng theo quy tắc ấy. Chẳng hạn tính năm có Can Canh(có số cuối của số biểu năm Dương lịch là số 0). Ta lấy năm Canh Tý: năm 1960 thì năm 1970 là năm Canh Tuất; năm 1980 là năm Canh Thân; năm 1990 là năm Canh Ngọ; năm 2000 là năm Canh Thìn; năm 2010 là năm Canh Dần… và ta cũng có thể tính tới hoặc tính lùi theo ý muốn xác định một mốc năm nào đó cũng rất tiện lợi.

Những ví dụ nêu trên là tính theo Can Chi dương(số lẻ trong dãy thứ tự), còn muốn tính theo Can Chi âm(số chẵn trong dãy số thứ tự) thì cứ theo sát kế tiếp Can Chi dương là có ngay Can Chi âm.
Ví dụ: Can Chi dương là Canh Tý thì Can Chi âm kế sát đó là Tân Sửu; năm dương Canh Tuất, năm âm kế đó là Tân Hợi; năm dương là Canh Thân thì năm âm kế đó là Tân Dậu; năm dương là Canh Ngọ thì năm âm kế đó là Tân Mùi; năm dương là Canh Thìn thì năm âm kế đó là Tân Tị; năm dương là năm Canh Dần thì năm âm kế đó là năm Tân Mão…
Chúng ta cứ thực hành áp dụng cách tính này vài lần thì sẽ quen và trở nên thuận lợi, nhanh chóng và chính xác.
Cần lưu ý rằng, mỗi HÀNH TINH có liên quan đến 6 cặp tuổi âm dương có bổn mạng khác nhau(cứ mỗi cặp liền nhau là một bổn mạng, ta xem bảng liệt kê trên thì thấy rõ). Ví dụ: HÀNH MỘC gồm có 6 cặp:1.Nhâm Tý & Quý Sửu (Tang đố mộc=gỗ cây dâu); 2.Nhâm Ngọ & Quý Mùi (Dương liễu mộc= gỗ cây dương liễu); 3.Mậu Tuất & Kỷ Hợi(Bình địa mộc=gỗ đồng bằng); 4.Mậu Thìn & Kỷ Tị (Đại lâm mộc=gỗ rừng lớn); 5.Canh Thân & Tân Dậu(Thạch lựu mộc= gỗ cây lựu); 6.Canh Dần & Tân Mão(Tùng bá mộc= gỗ cây tùng).
 
Để tiện lợi cho cách xác định bổn mạng theo ngũ hành tình nói trên, tôi đã vẽ minh họa bằng cách dùng bàn tay trái mà lòng bàn tay như một hình ngũ giác có 5 cạnh để chỉ các vùng ngũ hành: Hỏa-Thổ- Mộc- Kim- Thủy; còn các góc của ngũ giác là vị trí 5 cặp Thiên Can: 1.Giáp-Ất, 2.Bính–Đinh, 3.Mậu-Kỷ, 4.Canh–Tân, 5.Nhâm Quý. 

  BÀN TAY TÌM BỔN MẠNG TUỔI THEO THIÊN CAN-ĐỊA CHI
  (do Nguyễn Hồng Trân –cựu GV ĐHTH-Huế tạo lập 2015)

Ghi chú: Các góc của lòng bàn tay trái là quy ước của 5 cặp Thiên Can dương và âm: G.Â= Giáp- Ất; B.Đ=Bính-Đinh; M.K=Mậu-Kỷ; C.T=Canh-Tân; N.Q=Nhâm-Quý. Còn các cạnh ngũ giác của lòng bàn tay trái là 5 hành tinh định dạng cho mỗi cạnh theo quy ước cứ mỗi hành tinh chứa 6 cặp bổn mạng tuổi như sau:
I.Bổn mạng hành Hỏa
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.M.Tý-K.Sửu= Tích lịch Hỏa (lửa sấm sét)
2.M.Ngọ-K.Mùi=Thiên thượng Hỏa (lửa trên trời=lửa sao băng)
3.G.Tuất-Â.Hợi=Sơn đầu Hỏa (lửa trên núi)
4.G.Thìn-Â.Tị = Phúc đăng Hỏa (lửa ngọn đèn)
5.B.Thân-Đ.Dậu= Sơn hạ Hỏa (lửa dưới núi)
6.B.Dần-Đ.Mõa = Lô trung Hỏa (lửa trong lò)
II.Bổn mạng hành Thổ
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.C.Tý-T.Sửu= Bích thượng Thổ (đất trên vách)
2.C.Ngọ-T.Mùi =Lộ bàng Thổ (đất ven đường)
3.B.Tuất-Đ.Hợi= Ốc Thượng Thổ (đất trên nền nhà)
4.B.Thìn-Đ.Tị = Sa trung Thổ (đất trong cát)
5.M.Thân-K.Dậu= Đại trạch Thổ (đất đồng lớn)
6.M.Dần-K.Mão = Thành đầu Tổ (đất trên thành)
III.Bổn mạng hành Mộc
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.N.Tý-Q.Sửu= Tang đố Mộc (gỗ cây dâu)
2.N.Ngọ-Q.Mùi= Dương liễu Mộc (gỗ dương liễu)
3.M.Tuất-K.Hợi= Bình địa Mộc (gỗ đồng bằng)
4.M.Thìn-K.Tị = Đại lâm Mộc (gỗ rừng lớn)
5.C.Thân-T.Dậu= Thạch lựu Mộc (gỗ cây lựu)
6.C.Dần-T.Mão = Tùng bá mộc (gỗ cây tùng bách)
IV.Bổn mạng hành Kim
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.G.Tý-Â.Sửu= Hải trung Kim (vàng trong biển)
2.G.Ngọ-Â.Mùi= Sa trung Kim (vàng trong cát)
3.C.Tuất-T.Hợi= Thoa xuyến Kim ((vàng trang sức)
4.C.Thìn-T.Tị = Bạch lạp Kim (vàng chân đèn sáp)
5.N.Thân-Q.Dậu= Kiếm phong Kim (vàng đầu kiếm)
6.G.Dần-Â.Mão =Kim bạch kim (vàng trắng=Pt)
V.Bổn mạng hành Thủy
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.B.Tý-Đ.Sửu = Giản hạ Thủy (nước dưới khe)
2.B.Ngọ-Đ.Mùi =Thiên hà Thủy (nước mưa)
3.N.Tuất-Q.Hợi =Đại hải Thủy (nước biển lớn)
4.N.Thìn-Q.Tị = Trường lưu Thủy (nước dòng sông)
5.G.Thân-Â.Dậu = Tuyền trung Thủy (nước trong suối)
6.G.Dần-Â.Mão = Đại khe Thủy (nước khe lớn).
                                          ==00==
  
                           Hà Nội,  năm Ất Mùi=2015
                                              NHT


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015


                 MỘT CHUYẾN DU NGOẠN BÀ NÀ và SƠN TRÀ  ĐÀ NẴNG
                                                                  ==00==
                                            (Bút ký của Nguyễn Hồng Trân)

Vợ chồng chúng tôi vào chiều Chủ nhật cuối tháng 8 năm 2015 đã bay từ Hà Nội vào Đà Nẵng rồi nghỉ lại đêm tại KS Đại Á (51-phố Yên Bái). Sáng hôm sau, chúng tôi đi theo tour lên vùng núi Bà Nà tham quan. Đoàn chúng tôi gồm 16 người, phần lớn các bạn trẻ, chỉ hai vợ chồng tôi là già nhất đoàn. Sáu năm trước đây, chúng tôi cũng đã đến Bà Nà rồi, nhưng lần này thì thấy bộ mặt Bà Nà thay đổi rất nhiều với những hạng mục phong phú về cảnh vật phương tiện vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng v.v... Có thể nói rằng khu du lịch Bà Nà ở Đà Nẵng đã nhanh chóng bứt phá ngoạn mục làm hấp dẫn nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Nghe các hướng dẫn viên du lịch nói rằng, trong dịp nghỉ lễ 30-4-2015, mỗi ngày có đến hơn nửa triệu lượt người lên núi Bà Nà thưởng ngoạn.
Trung tâm của đỉnh Bà Nà nằm ở núi Chúa, độ cao 1.489 m so với mực nước biển. Khí hậu ở đây quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình vào mùa hè khoảng 18- 20ºC. Nhiều năm qua, nơi đây trở thành điểm du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng rất ấn tượng.
Ngày xưa, thời Pháp thuộc, trong một cuộc thám hiểm tìm kiếm khu nghỉ mát mới của quân đội Pháp năm 1901,và đỉnh núi Bà Nà được khai phá, tọa lạc tại một khu vực thuộc về dãy núi Trường Sơn (thuôc xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách Đà Nẵng hơn 25 km về phía tây nam).
Ngày 5/3/2004, chùa Linh Ứng cùng với tượng phật Đức Bổn Sư cao 27 m được hoàn thành tại đây. Để lên được tới đỉnh, du khách phải băng rừng và đèo quanh co qua quãng đường mòn chừng 15 km rất khó nhọc, vất vả, nhưng giờ đây có hệ thống cáp treo hiện đại, an toàn đã đưa du khách lên núi ngoạn cảnh được dễ dàng thoải mái.
Đến năm 2006, một tập đoàn doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư xây dựng Bà Nà Hills với hệ thống cáp treo lớn trên thế giới, biến đỉnh núi này thành một trong những khu vui chơi, nghỉ dưỡng hàng đầu tại Việt Nam.
Chuyến du chơi từ Đà Nẵng lên Bà Nà của cúng tôi với vé trọn gói là 850 ngàn VNĐ/người. Chúng tôi xuất phát từ KS Đại Á, Đà Nẵng lúc 8 giờ sáng, xe chạy trên quãng đường gần 30 Km thì đến chân núi Bà Nà rồi vào ga cáp treo. Du khách xếp hàng đi vòng vèo rồi vào lần lượt vào ngồi từng cabin 10 người và cáp treo di chuyển liên tục lên đến ga  cuối cùng trên núi. Ra khỏi Cáp treo, du khách chuyển sang đi tàu hỏa lên trên cao rồi ra đi dạo tham quan các thắng cảnh thiên nhiên và nhân tạo trên vùng núi này như các chùa, vườn hoa, một số phố cổ của Pháp, v.v... Mọi cảnh vật nơi đây thật là đẹp, rất ấn tượng; nhất là phu phố cổ của Pháp. Ai đến đây cũng có cảm tưởng như đang ở nước ngoài tại Pháp. Trên Bà Nà có khu nghỉ dưỡng và khách sạn sang trọng, ngoài ra còn có một số trò giải trí theo cảm giác mạnh cho tuổi trẻ và cũng có vài cửa hàng ẩm thực Á, Âu do một số đầu bếp trong và ngoài nước thực hiện với những món ăn, thức uống khá đặc trưng và ngon miệng.
Đoàn chúng tôi, nghỉ ăn trưa ở đây tại một nhà hàng tự chọn rộng rãi sang trọng trên tầng 2 của lâu đài cổ kính trên đỉnh hình chóp nón. Sau đó, chúng tôi tự do đi tham quan chụp ảnh lưu niệm đến 2 giờ chiều thì tập trung để đi về ga cáp treo để xuống chân núi. Hệ thống cáp treo ở Bà Nà nhập của nước ngoài rất hiện đại và an toàn. Đường cáp treo này dài nhất Đông Nam Á với chiều dài hơn 5 km và đứng thứ 7 thế giới. Tập đoàn xây dựng của ông Lê Viết Lam (bạn của nhà tỷ phú TG Phạm Nhật Vượng) đã có dự định xây dựng cáp treo lên núi Phanxipan(miền Bắc VN) với chiều dài cáp treo bậc nhất trên thế giới. Nếu dự án đó trở thành hiện thực thì thật là tuyệt vời! Chúng tôi nhất định sẽ đi du lịch Sa Pa và lên cáp treo đó.
Đoàn chúng tôi rời Bà Nà về lại Đà Nẵng. Dọc đường về, chúng tôi ghé vào tham quan cửa hàng sản phẩm ngọc trai, đá quý của công ty kinh doanh NTĐQ, rồi đến cửa hàng bán đặc sản ẩm thực Đà Nẵng để ai muốn mua sắm quà gì thì lựa chọn mua tùy ý. Sau đó, chúng tôi về KS nghỉ lại. Sáng hôm sau, chúng tôi đi tham quan chùa Linh Ứng trên bán đảo Sơn Trà. Tại đây, khách đến tham quan cũng rất đông. Cảnh vật đền, chùa với nhiều tượng Phật, các vị La Hán và những cây cổ thụ đã tạo nên một cảnh quan thiêng liêng, trang trọng tại vùng bán đảo này.
 Tiếp theo cuộc hành trình, chúng tôi ra thăm Huế cũng có nhiều điều thú vị (chúng tối sẽ kể lại vào dip khác) và chiều hôm sau thì bay ra Hà Nội, trở về nhà.
Chuyến du lịch này của chúng tôi thật là thú vị, nhưng tiếc rằng quá eo hẹp thời gian, nên ở Đà Nẵng, vợ chồng tôi không thể ghé thăm bạn bè,bà con nội ngoại được, có lẽ vào dịp khác đi riêng thì có thể rộng rãi thì giờ hơn mới đi thăm được nhiều bà con, bạn bè... cho thỏa mãn tình cảm nhớ mong./.
                                  NHT
                       Hà Nội cuối tháng 8 năm 2015.

                                    

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

                     GẶP MỘT NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ
               NGÀY VUA BẢO ĐẠI THOÁI VỊ 30/8/1945
                                        ******  
                                              Nguyễn Hồng Trân

Nhân dịp kỷ niệm 70 ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 năm nay (2015), tôi tìm đến nhà Việt (ở nhà 125 Đ, ngõ Hòa Bình 7, phố Minh Khai,Hà Nội) để thăm bác. Năm nay bác đã 95 tuổi, nhưng bác vẫn còn minh mẫn, tỉnh táo và đi lại bình thường. Tôi rất mừng và nghĩ rằng bác là một nhân chứng lịch sử tròn 70 năm ngày bác cùng với ông Nguyễn Thế Lương(Cao Pha) đã tổ chức treo cờ đỏ sao vào lên đỉnh cột cờ Kinh thành Huế trong ngày vua Bảo Đại thoái vị chiều 30-8-1945.
Mấy năm trước, mỗi lần ra Hà Nội, tôi đều ghé thăm bác Việt, vì ngày xưa ba tôi làm cai lính Khố vàng canh gác ở Đại nội Huế và sau ngày kháng chiến chống giặc Pháp, ba tôi cũng đi bộ đội cụ Hồ nhưng đã mất sớm (1947) nên tôi coi bác như người cha, người chú thân thiết.
Mỗi lần tôi gặp bác Việt, bác chuyện trò với tôi rất vui vẻ, cởi mở, nhiệt tình về các vấn đề xã hội, đất nước và con người xưa nay. Càng nghe bác nói chuyện, tôi càng hứng thú, thán phục về tầm hiểu biết văn hoá, lịch sử của bác cũng khá sâu rộng, uyên thâm.
Tôi nghĩ rằng, kiến thức của bác Việt có được như vậy cũng do quá trình học hỏi đã tích luỹ được trong thực tế trên nửa thế kỷ với sự rèn luyện, chiến đấu kiên cường, anh dũng qua bao thử thách trong hàng ngũ quân đội nhân dân Việt Nam.
Tôi và bác nói chuyện với nhau được một lúc thì bác quay sang hỏi tôi:
“Cậu đến thăm mình và có cần việc gì không?”
Tôi trả lời:
“Cháu đến thăm bác, trước tiên là để được gặp thăm bác- một người lịch sử mà xưa nay cháu đã từng nghe tiếng về một sự kiện lịch sử liên quan đến bác. Đó là việc bác đã chỉ huy treo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài kinh thành Huế trong ngày lễ vua Bảo đại thoái vị. Hồi đó, cháu mới học xong lớp nhì ở Huế và cháu cũng có mặt cùng mẹ cháu trong buổi lễ đó. Bấy giờ ba cháu là cai lính khố vàng lo canh gác Đại Nội Huế. Ba cháu có kể lại rằng, khi cách mạng giành chính quyền ở Huế, vua Bảo Đại ra lệnh cho đội lính Khố vàng canh gác kỳ đài "không được đụng đến quân đội Việt Minh để yên cho họ muốn làm gì thì làm thì mọi người mới được an toàn”.
Thế là ngày 21/8/1945, cuộc cách mạng giành chính quyền thành công đã diễn ra ra ở Huế. Lá cờ của nhà vua bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên Kỳ đài Kinh thành Huế.
Sau đó, đến ngày làm lễ nhà vua thoái vị thì lá cờ vàng Quẻ ly của nhà vua lại được kéo lên để làm thủ tục lễ thoái vị cho nhà vua. Khi làm lễ chính thức bàn giao quyền lực cho chính thể mới VNDCCH thì cờ nhà vua sẽ hạ xuống và cờ đỏ sao vàng sẽ được kéo lên kỳ đài.
Bác Việt nói liền với tôi:
“Thực ra thì vua Bảo đại cũng đã biết trước tình thế vận nước lúc bấy giờ rồi nên mới để yên cho quân cách mạng tiến hành yên ổn như vậy. Nếu không thì cũng sinh chuyện đổ máu trong ngày đó thì có lẽ cũng là ngày giỗ của chúng tôi và giỗ cả nhà vua nữa”.
Tôi hỏi thêm bác Việt:
“Xin bác nói rõ hồi đó bác chỉ huy kéo cờ như thế nào? Bác có tham gia trực tiếp kéo không?”
Bác Việt trả lời:
“Tôi là người trực tiếp chỉ huy toán lính ta gồm 5 người trang phục chỉnh tề đứng chào. Tôi chỉ ra lệnh cho số lính dõng địa phương kéo cờ vàng nhà vua xuống và kéo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài trước Ngọ Môn Kinh thành Huế và những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó cũng một vinh dự cho tôi trong cuộc đời tham gia cách mạng, làm lính cụ Hồ”.
Tôi hỏi tiếp bác Việt:
“Bác là một trong những nhân chứng quan trọng trong giờ phút lịch sử ấy, bác có cảm tưởng như thế nào lúc bấy giờ?”
Bác trả lời:
“Tôi vô cùng xúc động trước sự kiện lịch sử này. Từ trên cột cờ nhìn xuống, tôi thấy cả một biển người sôi động hô vang: “Hồ Chí Minh Muôn năm! VNDCCH Muôn năm!”. Tôi cảm thấy mình đang bừng lên không khí phấn khởi chung của đồng bào Thừa Thiên- Huế chào mừng một chế độ mới dân chủ, độc lập không còn thực dân, phong kiến nữa. Càng ngẫm nghĩ tôi càng thấy rằng chính sách của Chính phủ cụ Hồ thật khôn khéo và nhân đạo đã đem lại sự ổn định niềm tin và cảm tình cho toàn thể dân chúng. Chứ không phải như ngày xưa ở Pháp và một số nước khác khi lật đổ một chế độ là họ sát hại nhà vua và các quan lại cận thần không luyến tiếc”.
Nghe như vậy, tôi tiếp lời bác Việt:
“Cũng nhờ chính sách mềm dẻo của chính quyền cách mạng như thế nên vua Bảo Đại cũng cảm kích và sẵn sàng thoái vị mà không có một chút gì sợ hãi, oán hận mà nhà vua rất bình tĩnh. Đều đó đã thể hiện trong bài chiếu thoái vị của nhà vua trước hàng chục vạn đồng bào trong chiều ngày 30/8/1945, trong đó có đoạn như sau:
“Còn về phần trẫm, sau 20 năm ngai vàng, bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập, chứ trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của trẫm hay của Hoàng Gia mà lung lạc quốc dân nữa.
         Việt Nam độc lập muôn năm!
        Dân chủ Cộng hoà muôn năm!”
(Trích Tờ chiếu số hiệu:1871 –GT,ngày 18 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (25 tháng 8 năm 1945) .
        Trước ngày thoái vị, vua Bảo đại có ban một tờ chiếu cho bà con trong Hoàng tộc và được công bố vào ngày 25/8/1945, trong đó một câu nói nổi tiếng đầy ý nghĩa mà chắc nhiều người trong nước ta còn nhớ:
“Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”
 Câu đó nằm trong đoạn sau:
“Cái gia tài quý báu di truyền đã gần 400 năm ấy, nay trong giây phút trẫm bỏ hết cả. Bà con trong Hoàng tộc ai mới nghe cũng phải đau lòng ngậm ngùi. Song trẫm biết rằng đó chỉ là một cái cảm tính thoáng qua trong chốc lát mà thôi chớ bà con ai cũng sẵn tính bình tĩnh, sẵn trí sáng suốt để xét gần, thấy xa, cho nên sau khi đã chuẩn định lấy ba chữ “Dân vi quý” làm một khẩu hiệu của chính thể mới, sau khi đã tuyên bố: Để hạnh phúc dân lên trên ngai vàng. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”, nay trẫm nhất định thoái vị để giao vận mệnh quốc gia lại cho một chính phủ có đủ điều kiện huy động hết thảy lực lượng của toàn quốc mà giữ vững nền độc lập của nước, hạnh phúc cho dân” (Trích tờ chiếu Số hiệu: 1872 –GT. Ngự tiền Văn phòng cung lục,25 tháng 8 năm 1945).
Sau ngày Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tỏ ý tôn trọng cựu hoàng Bảo Đại mà gửi thư vào mời ông Vĩnh Thụy ra làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời tại Hà Nội. Chính nhờ sự rộng lượng khôn khéo ấy mà có nhiều cựu quan lại nhà Nguyễn lúc bấy giờ cũng đi theo nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như ông Thái Văn Toản, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hoè, v.v…
Nghe tôi nói như thế, bác Việt cũng tỏ vẽ tán đồng và cười vui. Sau đó bác ấy kể cho tôi về cuộc đời binh lửa của bác trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Hầu hết các sĩ quân quân đội nhân dân Việt Nam ai cũng biết tên tuổi bác.
Đặng Văn Việt nguyên là Trung đoàn trưởng TĐ 174 (Cao- Bắc- Lạng) đã tham gia chỉ huy hàng trăm trận đánh với quân giặc và đều thắng lợi. Nên các tướng tá quân Pháp lúc bấy giờ phong cho bác Việt danh hiệu: “Con hùm xám đường 4”.
Trong cuộc đời quân ngũ của bác Việt, bác đã từng tham gia các chiến dịch lớn như:
-Nguyên chỉ huy mặt trận đường số 9
-Nguyên chỉ huy mặt trận đường số 7
-Nguyên chỉ huy mặt trận đường số 4
-Nguyên chỉ huy mặt trận đường số 6
Bác Đặng Văn Việt tuy nay tuổi rất cao, nhưng bác vẫn còn tỉnh táo, chuyện trò rành mạch, vui vẻ thoải mái. Bác nói cuộc đời của bác tổng kết lại gồm 3 cái có và 7 cái không như sau:
-3 cái có là:
1.Có công với Giang sơn Tổ quốc.
2.Có tình nghĩa với đồng bào, đồng đội.
3.Có kiến thức thực tiễn và lý luận sâu rộng về quân sự.
-7 cái không” là:
1.Không tham ô, trục lợi,
2.Không hủ hoá, trụy lạc,
3.Không quỳ gối, xu nịnh,
4.Không hèn nhát, cầu an,
5.Không hận thù, thành kiến,
6.Không lừa dối, xảo trá,
7.Không háu danh, địa vị.
Sau ngày nghỉ hưu, bác vẫn không ngừng hoạt động công tác xã hội và Hội cựu chiến binh. Bác Việt còn dành nhiều thời gian sưu tầm tư liệu và kết hợp với kiến thức thực tế trong lịch sử chiến đấu chống giặc của quân và dân ta để viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc.
Những tác phẩm của bác Việt được nhiều người đón đọc và hoan nghêng, ngưỡng mộ. Có 2 tác phẩm của bác được giải thưởng. Đó là các tác phẩm:
-Đường 4 rực lửa- được giải văn hoá nghệ thuật toàn quốc năm 1987.
-Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ đường 4 anh hùng (Hồi ký, được xếp hàng đầu trong các hồi ức thế giới năm 2004 (theo tin của BBC).
Đặc biệt cách đây không lâu, có một tác phẩm được nhiều nhà sử học đánh giá rất cao và được nhiều bạn đọc ca ngợi. Đó là tác phẩm:
-Người lính già kể chuyện dân tộc Việt Nam chống xâm lược và những bài học.
Quyển sách này, bác Việt và các cộng tác viên đã viết đi viết lại 7,8 lần và đã tiến hành bốn cuộc hội thảo lớn tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Hàng trăm giáo sư, tiến sĩ, nhiều tướng lĩnh v,v… đã nhiệt tình ủng hộ và cổ vũ cho công trình này.
Như Thượng tướng, GS, NGND Hoàng Minh Thảo, nguyên Viện trưởng Học viện Quốc phòng Việt Nam đã ghi trong lời tựa quyển sách:
“Tôi xin thành thật cảm ơn và hoan nghênh tác giả Đặng Văn Việt và cộng tác viên của ông đã làm nên công trình quý giá này, một đóng góp vào kho tàng tư liệu về nghệ thuật quân sự, lịch sử quân sự, kho tàng văn hoá của nước nhà”.
Cũng như trong nhận xét của GS. Trần Văn Giàu:
“Sau 21 thế kỷ, lần đầu tiên cuốn “Việt Nam chống xâm lược”  “là cuốn quân sự đầu tiên của Việt Nam” từ cổ đại đến hiện đại được xuất hiện. …Sách tuy không dày lắm nhưng nội dung bao trùm nhiều lĩnh vực, nên có thể coi như một một Bách khoa thư thu nhỏ”.
Những tác phẩm của bác Việt nói trên là một tài sản vô giá của người lính cụ Hồ để lại cho thế hệ đi sau với những cái đánh giá, nhìn nhận rất thực tiễn, khách quan và trí tuệ của một nhà quân sự dày dặn kinh nghiệm chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc và quê hương đất nước Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập trường Thanh niên Tiền tuyến Huế (1/7/1945 – 1/7/2015), bác Đặng Văn Việt đã từ Hà Nội vào Huế dự buổi gặp mặt các vị cựu TNTT tại Bảo tàng Lịch sử Cách mạng tỉnh Thừa Thiên -Huế. Bác đã thay mặt cho Ban liên lạc học sinh của trường phát biểu ý kiến rất xúc động. Trong đó có đoạn: “Chúng tôi, những nhân chứng lịch sử còn sống sót đến hôm nay nguyện sẽ đem hết sức lực cuối đời mình cùng với các đồng chí để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam”.

                                ===00===     

  


Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

                         NGỒI TRÊN BỜ BIỂN NHẬT LỆ NHỚ VỀ CHUYỆN XƯA
                                                                    ==00==
Lần này về thăm quê Quảng Trị, tôi có dịp ghé qua thành phố Đồng Hới dạo chơi và rồi đi tắm biển Nhật Lệ thật là thú vị. Tôi đã đi tham quan động Phong Nha- Kẻ Bàng và đến nghỉ lại Đồng Hới mấy lần, nhưng cũng lâu lâu rồi. Lần này về lại Đồng Hới, tôi thấy phố phường, đường sá khang trang lên nhiều, nhất là vùng bờ biển Nhật Lệ, các khách sạn, cửa hàng mọc lên dày đặc xen lẫn giữa những hàng cây xanh bóng mát. Vợ chồng chúng tôi và cậu em đã say mê ngắm biển xanh với từng làn sóng vỗ bờ rồi cùng nhau chạy xuống tắm bơi vẫy vùng cùng với bao khách du lịch. Tiếng cười nói râm ran thật là vui nhộn.
Sau khi tắm xong, chúng tôi lên ngồi trên sân nhà hàng "Đức Hạnh" để thưởng thức mấy món hải sản vùng biển này như cua, mực, cá thu nướng, sò điệp nướng, v.v... Chỉ có món sò điệp nướng là lạ miệng đối với chúng tôi thôi, còn các thứ khác thì chúng tôi cũng đã được ăn ở nhiều nơi khác rồi. Nhưng có một điều làm cho tôi thích thú nhớ lại chuyện ngày xưa khi tôi về thăm gia đình bà cô ruột của tôi(bà Nguyễn Thị Đệ- người ta thường gọi là bà nghè Lượng) ở Đồng Hới. Bà chuyên môn làm các món ăn hải sản như thế để đãi bà con nơi xa về. Đặc biệt bà nấu cháo cá, chè đậu ván, làm bánh bột lọc, bánh nậm rất ngon. Hồi xưa ở Huế, vào năm 1944-1945, tôi học đang lớp nhì, khi tan học, mấy đứa học trò cùng phố với nhà tôi thường ghé đến nhà bà Đệ xem bà làm bánh, hấp bánh, nướng cá, nướng mực thơm lừng rất hấp dẫn khẩu vị. Đứa nào lúc đó cũng thèm chảy nước miếng. Thỉnh thoảng bà cho mấy đứa học trò bọn tôi nếm thử rồi khen ngon... Sau đó bà cũng cho ăn... ôi, thật là ngon! thật là vui!
Bây giờ mỗi lần về lại Đồng Hới, được nếm lại các thức ăn đó là tôi cứ nhớ đến bà nghè Lượng ngày xưa./.
                              Nguyễn Hồng Trân


Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

                 VĂN MIẾU HÀ NỘI THẬT LÀ ẤN TƯỢNG
                   (Nguyễn Hồng Trân sưu tầm và giới thiệu)

Văn Miếu ở số 58 phố Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Hà Nội. Tên gọi Văn Miếu có từ năm Canh Tuất(1070), niên hiệu Thần Vũ II đời Lý Thánh Tông. Vua cho dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Sau còn cho Hoàng thái tử đến học, vì thế ngày xưa còn có tên gọi là Thái học.
Năm Bính Thìn (1076), niên hiệu Anh Võ Chiêu Thắng I  lập nhà Quốc Tử Giám, một nhà trường mở rộng cho con em tầng lớp quí tộc đến học. Đây là một trường Đại học đầu tiên của dân tộc. Vào đầu đời Trần (1253), đổi thành Quốc học viện. Đến đời nhà Lê (1483) đổi thành Thái Học đường cho tới đầu thế kỷ XIX, khi kinh đô chuyển vào Huế, nhà Nguyễn lập Quốc Tử Giám ở Huế nên nơi này lại mang tên Văn Miếu và tồn tại cho tới ngày nay.
Khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám tôn nghiêm, được ngăn cách với vườn Giám và không gian bên ngoài bằng tường gạch vồ và được chia làm 5 lớp không gian khác nhau, mỗi lớp được giới hạn bởi các tường gạch và có các cửa thông nhau: một cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên với các kiến trúc chủ thể là: cổng Văn Miếu, cổng Đại Trung, Khuê Văn các, cổng Đại Thành, khu điện thờ, cổng Thái Học và kết thúc là khu Thái Học.
          Nhìn từ trên Khuê Văn các ta thấy toàn cảnh hồ Giếng Thiên Quang và hai bên là dãy nhà bia đề danh tiến sĩ bằng chữ Hán, mỗi bên 41 tấm, và mỗi tấm dựng trên lưng con rùa đá vững vàng.
Tại Văn Miếu Hà Nội hiện nay chỉ còn 82/117 tấm bia đề danh tiến sĩ. Vì nếu theo đúng điển lệ triều Hậu Lê thì phải lập đủ 117 tấm bia đề tên Tiến sĩ. Thế nhưng trải qua bao cơn binh lửa, vật đổi sao dời, số bia chỉ còn là 82 tấm. Các tấm bia khắc văn bia Tiến sĩ đươc đặt trên lưng con rùa –là con vật tượng trưng cho sự trường tồn vĩnh cửu.
Hiện ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội còn lưu giữ được 82 văn bia đề danh Tiến sĩ, có niên đại trải dài hơn 300 năm với 82 khoa thi. Văn bia được khắc đầu tiên có niên đại Hồng Đức thứ 15 (1484) cho khoa thi Đại Bảo thứ 3 (1442) và văn bia khắc cuối cùng có niên đại Cảnh Hưng thứ 41 (1780) cho khoa thi Cảnh Hưng thứ 40 (1779). Số lượng văn bia được dựng theo thời gian như sau: thời Lê sơ có 13 văn bia, thời Mạc có 1 văn bia, thời Lê Trung hưng có 68 văn bia(3). Số người đỗ đại khoa được văn bia khắc họ tên, quê quán là 1304 vị Tiến sĩ Nho học (không kể 3 trường hợp đi thi 2 lần là Trịnh Thiết Trường, Nguyễn Nguyên Chẩn và Nguyễn Nhân Bị).
Hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội được nhà nước phong kiến các thời kỳ tổ chức dựng bia, khắc đá, đề danh khá cẩn thận và chu đáo, từ việc chọn đá, tuyển người soạn bài văn bia, người nhuận sắc, người khắc, hình thức trang trí, v.v... Một đặc điểm dễ nhận thấy là, 82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội đều đề tên người soạn văn bia và bài văn bia thường được kết cấu theo một khuôn mẫu: phần mở đầu là ca ngợi công đức của các triều vua trị vì, ca ngợi đạo Nho và bậc thánh nhân quân tử; phần tiếp theo nói về việc mở khoa thi và liệt kê họ, tên, quê quán những người thi đỗ đại khoa; phần cuối là những lời bình về ý nghĩa của việc dựng bia, vai trò trách nhiệm và nghĩa vụ của những người thi đỗ trước giang sơn đất nước. Một đặc điểm khác cũng dễ nhận thấy là 82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội đều khắc hoa văn trang trí rất cầu kỳ, mang tính cách điệu cao, là những tư liệu có giá trị khi nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc nước ta thời kì từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội thực sự là những tài liệu hết sức có giá trị khi nghiên cứu truyền thống giáo dục, chế độ khoa cử và nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ - Lê Trung hưng.
Nhưng văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội cũng có những đặc điểm liên quan đến vấn đề văn bản học mà chúng ta phải lưu ý khi sử dụng chúng. Đó là việc triều vua Minh Mệnh (1820-1840) thời Nguyễn cho đục những dòng chữ liên quan đến các chúa Trịnh trên 68 văn bia (các bia dựng từ năm 1653 đến năm 1779), hoặc việc 14 văn bia được xác định là khắc lại(4) đã làm mất đi tính minh xác của văn bia, một loại tài liệu được đánh giá cao về tính chính xác của văn bản.
82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội đã được làm thác bản từ những năm đầu của thế kỷ XX do Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (tại Hà Nội) thực hiện và những năm cuối của thế kỷ XX do Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện, các thác bản hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 82 văn bia đề danh Tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội đã được dịch và công bố nhiều lần
Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội, giờ đây hàng ngày có rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan đều rất thích thú. Đây cũng là nơi thỉnh thoảng có những cuộc triển lãm về Văn hóa-Nghệ thuật và tổ chức phong học hàm, học vị cho các nhà trí thức đạt tiêu chuẩn Quốc gia.
Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội tật là ấn tượng!
                                                 NHT

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

            NHỚ LẠI NHỮNG ĐÊM TRẮNG
BÊN DÒNG SÔNG NÊ-VA Ở CỐ ĐÔ NƯỚC NGA


Sông Nê –Va đẹp hiền hòa,
Đã từng say đắm lòng ta thuở nào.
Bao lần ta đã ước ao,
Du chơi đêm trắng như vào cõi tiên.
Dòng người dạo cảnh liên miên,
Cùng nhau đàn hát thâu đêm tưng bừng.
Ai cũng hớn hở, vui mừng,
Như đi lễ hội tại vùng linh thiêng.
Trời đất như thể hợp duyên,
Tạo nên tuyệt tác thiên nhiên với đời….
                 Nguyễn Hồng Trân

Ghi chú: Ở Cố đô nước Nga –Saint Petersburg có hiện tượng rất đặc biệt như ở Phần Lan là vào tháng 6 có những đêm không bóng tối. Trời vẫn sáng như ban ngày vào lúc hoàng hôn mới xuống và cứ thế suốt đêm cho đến sáng ngày hôm sau. Người Nga gọi mấy đêm đó là “những đêm trắng”. Chỉ có 3 đêm là thể hiện rõ ràng nhất là vào đêm 24, 25, 26 tháng 6 hằng năm.

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015


          TẢN MẠN VỀ CHUYẾN DU LỊCH THÁI LAN
                                           ==00==
                                           Nguyễn Hồng Trân
Vào cuối tháng 5 đầu tháng 6,chúng tôi du lịch sang Thái Lan được đi tham quan Thủ đô Bangkok và một vài thành phố lớn khác. Ấn tượng nhất đối với chúng tôi, thứ nhất là xem vườn thú thiên nhiên rộng lớn và có rất nhiều loại thú như voi, hổ, báo, tê giác, hà mã,v.v… và rất nhiều loài chim lớn nhỏ… thứ hai là xem đàn voi mẹ, voi con biểu diễn nhiều trò rất độc đáo, đẹp mắt do những chú quản tượng rất tài nghệ điều khiển; thứ ba là xem biểu diễn con người điều khiển xiếc với các loài rắn độc; thứ tư là xem chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc sắc ở Alcaza của Hội những người chuyển giới nam thành nữ rất đẹp. Họ trình diễn nhiều tiết much ca- múa- nhạc, hoạt cảnh …tượng trưng cho các đất nước Đông Nam Á…  
Ngày cuối, chúng tôi về lại Bangkok ghé tham quan chùa Vàng lớn nhất Thế giới. Sau đó đi Ca nô trên sông Chaophaya để xem phong cảnh Bangkok cổ xưa và một bên là Bangkok ngày nay.
Có một điều mà chúng tôi rất ngạc nhiên là khách du lịch sang Thái rất đông, nhất là dân Châu Á. Về tình hình an ninh chính trị thì luôn bất ổn, cứ biến động, đảo chính, biểu tình luôn… Nói về danh lam, thắng cảnh ở Thái Lan thì cũng không có gì đặc biệt lắm; Về di tích lịch sử thì nước này quá ít ỏi, thế nhưng khách du lịch đến tấp nập hàng năm với số lượng hơn 54 triệu lượt người, gấp gần 10 lần so với du lịch nước ngoài đến Việt Nam. Chúng tôi nghĩ rằng, có lẽ ngành du lịch Thái Lan biết cách phối hợp đồng bộ với các ngành chức năng trong và ngoài nước, đồng thời họ biết cách tạo ra nguồn hàng hóa có chất lượng tốt, những sản phẩm thứ thiệt nên đã đem lại sự tin cậy cho khách hàng. Chúng tôi vào các siêu thị ở BangKok cũng như các siêu thị lớn ở các thành phố, thấy
người xếp hàng vào mua sắm rất đông cá loại mặt hàng gia dụng, y phục, trang điểm v.v…
Mặt khác, người Thái Lan đối xử với nhau cũng như với du khách rất thiện tình. Họ không chửi nhau, đánh nhau ngoài đường phố khi va chạm.
Tôi hy vọng rằng, ngành du lịch Việt Nam cũng sẽ phát triển để tiến kịp như Thái Lan. Mặc dù diện tích nước ta ít hơn Thái Lan (Việt=331.210Km2; Thái= 513.120 Km2), nhưng dân số nước ta nhiều hơn Thái (Việt= 90.493.335 người, đtra T4 năm 2014; Thái hơn 67 triệu dân). Do đó, nước ta có thế mạnh về nguồn lực lao động dồi dào, nếu biết tổ chức hợp lý thì nhất định sẽ có sản phẩm về du lịch sẽ phát triển khả quan hơn. Hơn nữa, đất nước ta có rất nhiều danh lam thắng cảnh ấn tượng, cộng với nhiều di tích lịch sử hùng tráng qua bao thời đại chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước; lại có nhiều di sản Văn hóa Thế giới nữa thì không có lí do gì mà du lịch nước ta chậm phát triển mãi được!
                                    *//*
                                   Hà Nội 5-6-2015
                                              NHT