Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

                                  TẢN MẠN VỀ CHUYẾN DU LỊCH SA PA
                               (Ký sự của Nguyễn Hồng Trân)
                                            =@@=
Vào mùa thu năm nay (Bính Thân-2016), chúng tôi có dịp đi du lịch lên vùng Sa Pa(*) để hiểu biết thêm những cảnh vật và con người ở vùng Tây Bắc nước ta. Nhất là sau khi nghe tin tại vùng này mới khánh thành vào đầu xuân năm nay một đường dây cáp treo ba dây từ Sa Pa lên Fansipan dài nhất Thế giới thuộc dãy Hoàng Liên sơn ở Việt Nam thì chúng tôi càng háo hức muốn lên đi cáp treo này cho biết và vui mừng cho sự đổi thay diện mạo du lịch của đất nước ta.
Đây là chuyến đi đầu tiên lên vùng này của vợ chồng chúng tôi. Xe của Cty DL Victoria xuất phát từ Hà Nội đưa chúng tôi cùng đoàn DL của Singapore lên Sa Pa từ 7 giờ 30 đến 13 giờ thì đến nơi. Xe chạy trên đường cao tốc trong 5 giờ rưỡi và có 2 lần dừng xe cho du khách tạm nghỉ (mỗi lần10 phút). Khi xe chạy trên đường, chúng tôi có thể ngồi, nằm duỗi chân thoải mái suốt cả dọc đường dài và xem tivi trên xe với băng video giới thiệu về các di tích văn hóa các tỉnh vùng Tây Bắc. Khi nào đói bụng muốn ăn thì ăn uống theo suất phát cho du khách lúc lên đường. Anh Trần Ngọc Hà lái xe và chị Đỗ Thị Ngọ hướng dẫn đoàn du lịch rất nhiệt tình chăm lo chu đáo cho đoàn chúng tôi.
Dọc đường dài cao tốc từ Hà Nội lên Lao Cai, xe phải chạy bon bon qua bao nhiêu làng bản, đồi núi, suối sông, cầu cống… Từ tỉnh Phú Thọ lên Yên Bái rồi đến Lào Cai, có những đoạn xe chạy, chúng tôi nhìn rõ dòng sông Hồng chảy uốn lượn vòng vèo dưới các chân đèo, chân núi. Khi xe chạy lên cuối tỉnh Yên Bái thì phải chui qua hầm núi gần cầu Đại Việt. Xe cứ tiếp tục chạy trên đường cao tốc dọc sườn núi của dãy Hoàng Liên Sơn thì nhìn thấy cảnh quan núi rừng, khe suối, mây mù trên non cao thật là hùng vĩ…
Khi đến vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn trên địa phận tỉnh Lào Cai, xe đưa chúng tôi chui qua hầm núi gần cầu Suối Đôi rồi tiếp tục chạy mãi hết đường cao tốc đến chân vùng đồi núi Sa Pa. Từ đây lên đến Trung tâm thị trấn Sa Pa, xe đưa chúng tôi phải chạy quanh co, vòng vèo gần 40 cây số nữa mới lên tận nơi. Nhìn thấy đường có nhiều nơi gập quẹo rất hẹp, dưới là vực sâu vài chỗ không có ta-luy rào chắn nạn, chúng tôi cảm thấy lo lo không an toàn. Tuy nhiên, anh Hà lái xe vẫn bình thản chuyện trò vui vẻ và tay lái rất điêu luyện đã vượt qua hết mọi " lưỡi dao nhọn" nguy hiểm của con đường lên dốc đến Trung tâm Sa Pa.
Sau khi xe đưa chúng tôi vượt qua hết chuỗi đường dài 350 Km với nhiều đồi núi, dốc đèo hiểm trở, đến 13 giờ du khách chúng tôi đã đến khách sạn Victoria. Chúng tôi làm thủ tục nhận phòng lưu trú 3 ngày 2 đêm để đi tham quan vùng Sa Pa.
Buổi chiều ngày đầu tiên, chúng tôi đi tham quan thị trấn Sa Pa bằng xe điện và dạo chơi qua các đường phố chính nơi đây như phố Xuân Viên (trước Nhà thờ Đá ), phố Thạch Sơn,  Cầu Mây, Fansipan,  Mường Hoa (phố Tây), Nguyễn Chí Thanh, Lương Đình Của, Võ Thị Sáu… Các đường phố ở đây còn nhỏ hẹp, nhà cửa hầu hết là chỉ có  vài tầng. Đặc biệt có phố Thạch Sơn nằm sát dưới chân núi đá cao.
Sau khi dạo phố xong, chúng tôi tìm nhà hàng để ăn bữa chiều tối. Trên đường Xuân Viên có rất nhiều quán ăn như: Cơm Việt, Hương Dũng, Sa Pa quán… Người ta giới thiệu các món ẩm thực đặc sản ở Sa Pa là: món thắng cố, cuốn sủi, lẩu cá hồi, cá tầm, thịt gừng, thịt lợn cắp nách, đồ nướng, v.v…
Đặc biệt là món Thắng Cố, đây là món ăn của người dân tộc H’mông được giữ cách chế biến cổ truyền tại các phiên chợ Bắc Hà, Mường Khương, Sa Pa. Một chảo thắng cố bao gồm thịt và nội tạng con ngựa được ninh nhừ trên bếp than. Nguyên liệu được ướp sẵn với các thảo quả, quế chi, hoa hồi và nhiều gia vị truyền thống khác. Người ta nói rằng, ai lên Sa Pa mà không ăn món thắng cố thì xem như chưa thực sự tìm hiểu về ẩm thực phố núi. Thắng cố ăn cùng cải mèo và nước chấm pha ớt Mường Khương là hợp vị nhất.
Tôi thì muốn ăn món thắng cố thử xem, nhưng vợ tôi thì không dám ăn nên chúng tôi đành ăn món thông thường không đặc sản lắm là mì xào với rau cải mèo cùng thịt dê phố núi. Hương vị món này cũng đậm đà ngon miệng.
Sáng ngày hôm sau, chúng tôi đi tham quan vùng cáp treo lên núi Fansipan. Phan Xi Păng, hay Phan Si Phăng là ngọn núi cao nhất Việt Nam, cũng là cao nhất trong ba nước Đông Dương nên được mệnh danh là "Nóc nhà Đông Dương" (3.143 m) thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn, cách thị trấn Sa Pa khoảng 9 km về phía tây nam, nằm giáp hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu thuộc vùng Tây bắc Việt Nam. Theo tiếng địa phương, núi tên là "Hủa Xi Pan" và có nghĩa là phiến đá khổng lồ chênh vênh.
Đường cáp treo Fasipan này bắt đầu khởi công xây dựng vào tháng 11 năm 2013 và hoàn thành các hạng mục cơ bản vào tháng 2 năm 2016, do tập đoàn Sun Group đầu tư và thực hiện với sự tư vấn, thiết kế của hãng cáp treo số 1 thế giới Doppelmayr Garaventa. Cáp treo Fansipan Sa Pa đã hiện thực hóa ước mơ chiêm ngưỡng “nóc nhà Đông Dương” cho tất cả mọi người, đồng thời khẳng định ý chí và bản lĩnh Việt Nam trong việc kiến tạo nên những công trình mang tầm vóc và đẳng cấp quốc tế. Tổng mức đầu tư giai đoạn 1 của tổ hợp dự án là 4.400 tỷ đồng. Ngoài tuyến cáp chính, các hạng mục kiến trúc như nhà ga đi, nhà ga đến, nhà hàng, quầy lưu niệm… đều được thiết kế kỳ công. Nhà ga đi - ga Sa Pa do kiến trúc sư Bill Bensley - một trong những kiến trúc sư hàng đầu thế giới - thực hiện. 
Ngày 2 tháng 2 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai và Tập đoàn  Sun Group đã khánh thành tuyến cáp treo ba dây hiện đại nhất thế giới, lần đầu tiên có mặt tại châu Á. Tại lễ khai trương, đại diện Kỷ lục Thế giới - Guinness World Record đã trao chứng nhận 2 kỷ lục Guinness cho cáp treo Fansipan Sa Pa là:
1.Cáp treo ba dây có độ chênh giữa ga đi và ga đến lớn nhất thế giới: 1.410 mét
2.Cáp treo ba dây dài nhất thế giới: 6.325 mét.
“Dự án cáp treo Fansipan không chỉ góp phần giúp Lào Cai và Fansipan trở thành điểm du lịch dành cho tất cả mọi người,  mà còn giúp tạo công ăn việc làm tại chỗ cho người dân địa phương, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh nói riêng và của cả vùng Tây Bắc nói chung, nơi luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ”, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải phát biểu tại lễ khai trương.(Theo nhà báo Phi Sơn trên báo Lào Cai ngày 2-2-2016). 
Tại buổi lễ khánh thành cáp treo này, ông Đặng Minh Trường, Phó chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Sun Group đã nói:
“Với tất cả những thử thách đã trải qua để có được ngày khai trương hôm nay, cáp treo Fansipan Sa Pa đã trở thành công trình tự hào, là sự vượt lên chính mình của Sun Group. Với tôn chỉ phát triển bền vững và hài hòa lợi ích cộng đồng, Sun Group cam kết sẽ nỗ lực hết mình để cùng chính quyền và nhân dân địa phương đưa du lịch Lào Cai lên một tầm cao mới…”
Chúng tôi thuê xe Taxi của Công ty PhanXiPang do anh Nguyễn Đức Hải lái xe đưa đến cổng vào cáp treo Fansipan. Đến đây đã thấy từng đoàn người kéo nhau đến chụp ảnh bên cột đồng hồ lớn trước lối vào đường dẫn tới cáp treo có bồn cây tùng và biểu tượng tháp nhọn núi Fansipan, phía trước đắp nổi dòng chữ lớn: FANSIPANLEGEND INDOCHANA SUMMIT(Huyền thoại Phanxipang-nóc nhà Đông Dương).Chúng tôi cũng chụp ảnh kỷ niệm tại đây rồi vào xếp hàng mua vé đi cáp treo lên núi Fansipan. Giá vé 600 ngàn đồng mỗi người cả đi về. Mua vé xong là đi vào thang máy cuốn xuống phía dưới theo ba đoạn mới đến chỗ xếp hàng vào cabin của cáp treo tại thung lũng Mường Hoa đi lên Fansipan. Mỗi cabin chở 30-35 người cứ xoay vòng liên tục chở người đi lên núi và xuống núi. Mỗi lần cáp treo đi lên và xuống khoảng 30-40 phút. Và với vận tốc ca bin đạt 8m/s và công suất vận chuyển tối đa 2.000 lượt khách trong một giờ.
Ngồi trong cabin cáp treo đi lên núi cũng như xuống núi rất nhẹ nhàng êm ái. Ai cũng vui thú nhìn cảnh rừng cây, suối khe, thung lũng... trải dài ở phía dưới đường cáp treo. Khi cabin chở du khách lên đến nơi và tự động mở cửa cho họ bước ra rồi vào nơi tạm dừng chân để chuẩn bị leo bộ lên đỉnh núi Fansipan với 639 bậc. Hầu hết lớp trẻ có sức khỏe đến đây đều hăng hái đi lên tận đỉnh núi. Còn những người già, sức yếu thì không dám liều đi lên.
Tại trạm cáp treo trên núi có các gian hàng bán các đồ dùng và vật lưu niệm, có Restoran phục vụ ăn uống, giải khát cho du khách. Nhưng nói chung, nội dung gian hàng chưa phong phú. Mặt khác, vùng núi phía trên không có gì cho du khách tham quan cả mà chỉ có ngắm sương mù buổi sáng và nhìn mây trời lãng đãng bay. Nghe nói rằng, có dự án tiếp theo là sẽ xây dựng một số đền, chùa để phục vụ ý nguyện về tâm linh cho du khách đến tham quan. Được như thế thì hay quá, nhưng chắc sẽ tốn kém rất nhiều tiền của đấy. Nhưng tốn tiền mà đáng tốn và có lợi là phải tốn thôi.
Buổi chiều, cúng tôi thuê xe taxi đi tham quan một vài bản mường dân tộc ở vùng Sa Pa. Anh Vi Văn Thành lái xe đưa chúng tôi vào bản Lao Chải và bản Tả Van. Đường đến hai bản này cũng rất quanh co khúc khỉu và nhiều ổ gà, ổ chó kéo dài gần 10 Km. Chúng tôi rất lo, nhưng anh Thành cứ lái chạy vùn vụt rất tự tin. Tôi nói với anh chạy xe chầm chậm thôi. Anh cười vui vẻ và nói rằng, hai bác yên tâm, con lái xe đường này mỗi ngày phục vụ du khách 5, 6 chuyến nên đã thuộc lòng đường rồi.
Trên dọc đường đi tham quan vùng thôn bản này, tất cả các xe đi qua phải mua vé mỗi người 75.000 đồng. Du khách tự đi vào bản tham quan, chẳng có người hướng dẫn, ngoài anh lái xe. Thế mà bán vé giá như thế là quá đắt. Theo tôi vé chỉ 50.000đ là được. Chúng tôi đi sâu vào tham quan bản Lao Chải. Bản này, dân bản là người H'Mông. Họ đang gặt lúa vụ hè thu trên những thửa ruộng bậc thang vòng cung xếp thành nhiều tầng lên tận đồi núi cao trông rất đẹp như những bức tranh thiên nhiên ở miền sơn cước thân yêu. Chúng tôi dừng lại vài chỗ để chụp ảnh lưu niệm với những cảnh vật này.Dọc đường vào bản, chúng tôi nhìn thấy rải rác từng nhóm người nước ngoài (phần lớn là người Âu, Mỹ) đi lang thang khắp nơi để tìm hiểu, khám phá những điều lạ lẫm mà họ chưa từng biết ở đất nước VN.
 Sau đó, xe anh Thành đưa đến bản Tả Van. Đến đây, chúng tôi vào xem một bảo tàng dân tộc của tư nhân bên dòng suối Đá có chiếc Cầu Mây treo qua suối. Bảo tàng dân tộc này chỉ trưng bày vài bộ y phục dân tộc Ráy, H'Mông và một số dụng cụ làm ăn sinh sống của dân bản. Chúng tôi tranh thủ chụp mấy bức ảnh ở vùng này rồi chuẩn bị quay về Sa Pa.
Lúc về đến Sa Pa, chúng tôi ghé vào chợ Trung tâm để xem hàng hóa vùng này. Trong chợ này trưng bày nhiều hàng hóa vùng Tây Bắc như các loại vải vóc, quần áo, đồ dùng thổ cẩm; các loại thảo dược miền núi, các loại mứt trái quả như táo, mận, đào… Chúng tôi mua một số đồ vật và thực phẩm về làm quà cho người thân.  Sau đó, chúng tôi đến nhà hàng Hương Dũng ở số 6 phố Xuân Viên để dùng bữa cơm tối. Nơi đây, nhà hàng sẵn sàng phục vụ du khách nhiều món ăn như các loại lẩu, xào, chiên, rang…
Sáng ngày cuối cùng ở Sa Pa, chúng tôi đi dạo chơi quanh hồ Sa Pa ở trung tâm thị trấn và trước sân nhà thờ đạo(có tên từ xưa là Nhà Thờ Đá). Tại đây, chúng tôi rất vui khi gặp lại mấy người thân quen ở Huế ra tham quan Sa Pa. Đồng thời, tôi cũng gặp nhiều du khách nước ngoài ngồi chơi ngắm cảnh và chuyện trò với nhau rất vui vẻ. Đồng thời cũng gặp mấy người dân tộc nói chuyện về phong tục của họ cũng thích thú. Đặc biệt làm chúng tôi rất ngạc nhiên nhất là thấy mấy cô dân tộc H'Mông dẫn đoàn người nước ngoài vừa đi vừa nói tiếng Anh, tiếng Pháp ào ào. Ôi, thật nể phục họ quá! Không biết họ học thế nào? học ở đâu mà nói được lưu loát như thế? Vợ chồng chúng tôi cũng đã học tiếng Anh(không chuyên) có trường lớp hẳn hoi mà cũng không thể nói được ào ào như vậy.
Nghe mấy anh lái xe du lịch nói rằng, mấy cô dân tộc nói tiếng Anh, tiếng Pháp như gió là vì họ tiếp xúc nhiều với người nước ngoài, có một vài người nước ngoài lưu trú vài ngày trong nhà họ và họ chịu khó học nói, kiểu nói bồi những câu đơn giản, chứ họ không biết viết thành văn. Nhưng cũng có nhà báo nói rằng, có Linh mục nhà thờ mời du khách Âu, Mỹ dạy tiếng Anh cho một số người dân tộc ở Sa Pa để họ có thể giúp du khách đến tham quan Sa Pa.
Đến buổi chiều hôm cuối cùng, chúng tôi tạm biệt khách sạn Victoria lên xe du lịch về Hà Nội lúc 14 giờ 30. Chúng tôi rất cám ơn khách sạn Victoria đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tốt chuyến tham quan Sa Pa vừa rồi. Chúc cho khách sạn Victoria giữ vững được truyền thống tốt đẹp của một khách sạn có từ thời Pháp với 20 năm tuổi đời và được nhiều người tin cậy.
Chuyến du lịch tham quan Sa Pa lần này, chúng tôi cảm thấy ấn tượng nhất là được đi cáp treo lên núi Fansipan. Đây là niềm mơ ước từ lâu của chúng tôi cũng như nhiều người khác trong thời kỳ còn trẻ trung. Lúc chưa có cáp treo, có một số bạn trẻ đã can đảm vượt núi rừng qua 2, 3 ngày để leo lên tận đỉnh Fansipan. Trong số đó có con rể của chúng tôi là Vũ Anh Tuấn. Giờ đây có đường cáp treo đã tạo thuận lợi và bảo đảm an toàn cho du khách lên Fansipan chỉ sau 15-20 phút là đến nơi.
Theo nguồn báo chí cho biết, từ đầu năm đến nay, nơi đây đã đón hơn 610.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế đến từ 70 quốc gia, lãnh thổ trên thế giới, tăng trưởng doanh thu du lịch từ 35-40% một năm. Theo dự tính của Nhà nước, với dự án cáp treo lên Fansipan thì đến năm 2017, Sa Pa sẽ đón khoảng 2 triệu lượt khách một năm và đến 2020, con số này tăng lên 3 triệu lượt khách. Như vậy, triển vọng sẽ thu hồi vốn được nhanh chóng hơn và nhất định trong tương lai không xa lắm, ngành du lịch VN sẽ có tăng trưởng đáng kể nhờ công trình cáp treo Fansipan này./.
        CÁP TREO FANSIPAN DIỆU KỲ
                           =@=
Núi cao chót vót ẩn trong mây
Mạo hiểm du chơi cũng mấy ngày
Thung lũng, non cao sương phủ kín
Suối khe, thác đổ nước tràn đầy
Ca bin lơ lững chuyền yên ắng
Du khách rung mình thấy ngất ngây
Mong ước bao đời nay hiện thực
Sa Pa tuyến cáp đến bồng lai…
       Nguyễn Hồng Trân
           (Thị trấn Sa Pa đêm 17/9/2016)
Chú thích: (*)Sa Pa- ngày xưa người dân tộc gọi là Sa Pả nghĩa là bãi cát.Sa Pa ở đô cao 1600 mét(so với mực nước biển).  Mùa đông năm 1903, trong khi tiến hành đo đạc xây dựng bản đồ, đoàn thám hiểm của Sở địa lý Đông Dương đã khám phá ra cảnh quan mặt bằng Lồ Suối Tủng và bản Sa Pả. Sự kiện này đánh dấu việc ra đời của thị trấn Sa Pa sau này.
Năm 1905, người Pháp đã thu thập được những thông tin đầu tiên về địa lý, khí hậu, thảm thực vật... Sa Pa bắt đầu được biết tới với không khí mát mẻ, trong lành và cảnh quan đẹp. Năm 1909, một khu điều dưỡng được xây dựng. Năm 1917, một văn phòng du lịch được thành lập ở Sa Pa và một năm sau, người Pháp bắt đầu xây dựng những biệt thự đầu tiên. Năm 1920, tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai hoàn thành, Sa Pa được xem như thủ đô mùa hè của Bắc Kỳ. Ngày xưa người Pháp đã xây dựng ở Sa Pa gần 300 biệt thự.
                         Hà Nội ngày 20-9-2016
                              Nguyễn Hồng Trân

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2016


                            LÒNG MẸ, TÌNH CON MÃI VẪN CÒN
                                                          ==##==
                                    (Nguyễn Hồng Trân)
Từ thuở ấu thơ đến nay đã già nua tóc bạc, đêm nào tôi cũng nhớ đến mẹ tôi. Mẹ tôi là Phan Thị Cúc, quê ở làng Thượng Xá, Hải Thượng, Hải Lăng, Quảng Trị. Bà sinh năm Ất Mão(1915), mất năm Canh Dần(2010). Mẹ tôi đã sống thọ 96 tuổi. Tôi cũng rất hạnh phúc được trở về chăm sóc nuôi dưỡng mẹ già gần 35 năm, sau một thời gian dài hơn 20 năm cách biệt gia đình và bà con làng xóm. Từ năm 1954 đến 1975, tôi sống ở miền Bắc. Đến năm 1976, tôi về lại thành phố Huế và giảng dạy trường Đại học Tổng hợp( nay là trường ĐH khoa học-Huế).

Mẹ con được gặp lại nhau trong hoàn cảnh nước nhà đã hòa bình, thống nhất, gia đình tôi được đoàn tụ. Niềm vui ấy đã dâng trào lên với mẹ con tôi thật là sung sướng…  Khi gia đình mới được sum họp, mẹ tôi cứ khóc hoài vì cảm động nhớ mãi nhiều chuyện ngày xưa về cái thời chiến tranh vô cùng gian nan vất vả. Tôi thương mẹ lắm, cứ động viên mẹ bớt lo nghĩ, đau buồn để an tâm sống cùng với gia đình bà con làng xóm.
Đối với mẹ tôi là cả một cuộc đời khổ cực, đau thương, vì chồng mất sớm(34 tuổi) để lại ba con thơ. Ba anh em chúng tôi còn nhỏ dại, mẹ tôi phải lo tần tảo nuôi con vất vả gian nan trong hoàn cảnh chiến tranh giặc Pháp.
Tôi còn nhớ vào một buổi sáng mùa hè năm 1947, tôi đi vác tre về làm chuồng heo, khi về đến nhà, tôi không nhận ra mẹ tôi nữa. Nhìn mẹ tôi với cái đầu cạo trọc như ông thầy tu, mặc quần nâu cụt đang cho heo ăn. Thấy mẹ như thế rất xấu xí tôi ngỡ ngàng và khóc òa lên. Hai năm trước ở Huế mẹ có mái tóc dài đến tận gót chân, khi mẹ búi tóc lên trông rất đẹp. Ai cũng khen mẹ người cao ráo, trắng da, dài tóc rất đẹp. Thế mà bây giờ mẹ phải làm như thế là sao? Mẹ tôi cười và giải thích rằng, thời chiến lo lao động làm ăn sinh sống là chính, còn phải lo khi giặc đến càn, đàn bà con gái sợ bọn giặc làm hại con ạ. Vì vậy mẹ phải làm cho xấu đi ở nơi này chẳng sao đâu con. 

Nhiều đêm khuya, mẹ tôi khóc thầm tủi phận một mình bên các con thơ đói rách. Có lần tôi tỉnh giấc, nghe tiếng sụt sùi, nức nở mẹ khóc trong đêm. Thương mẹ quá, tôi ôm chặt mẹ và dỗ dành mẹ đừng khóc nữa rồi hứa với mẹ rằng, con sẽ cố gắng lao động giúp đỡ cho mẹ bớt nhọc nhằn khổ cực và sẽ chăm sóc dạy bảo hai em(Nguyễn Thị Kha và Nguyễn Bá Triền) cho ngoan ngoãn.
Mẹ tôi nghe vậy đã ngừng khóc, xoa đầu tôi rồi nói: "Mẹ tin con trai đầu của mẹ biết thương mẹ, giúp mẹ và lo cho hai em".
Khi trên 10 tuổi, tôi đã cố gắng lao động, cuốc đất đồi trên vùng tản cư ở miền Giếng Đá, An Lạc để trồng khoai sắn và đi đốn củi đem ra chợ thị xã Quảng Trị bán lấy tiền mua gạo và đồ ăn. Sau đó, tôi vừa lao động giúp mẹ vừa tìm cách tự học thêm văn hóa qua sách giáo khoa. Vì trước lúc tôi về quê nội làng Phú Long, Quảng Trị, tôi đã học xong lớp nhì tiểu học ở cố đô Huế rồi. Nếu bỏ học hoàn toàn thì tiếc lắm. Cũng may cho tôi có người chú ruột là Nguyễn Bân đã xem tôi như con đẻ đã xin phép mẹ tôi mà đem tôi đi theo chú(cán bộ kháng chiến huyện Hải Lăng)để kèm cặp học tập, dạy bảo.  Nghe như thế tôi rất vui, nhưng thương mẹ nên tôi do dự không muốn xa mẹ; không muốn để mẹ vất vả một mình. Không ngờ mẹ tôi lại đồng ý cho tôi đi theo chú Bân để lo học hành, mẹ tôi đã nghĩ cho tương lai của tôi mà không để tôi bị thất học. Thế là tôi cũng chỉ giúp mẹ tôi đỡ nhọc nhằn, gian khổ một thời gian thôi. Sau đó tôi cũng tự đi tìm lớp ở vùng kháng chiến ở trong tỉnh để tiếp tục học lên. Đến năm tôi 16 tuổi, sau Hiệp định đình chiến ở Việt Nam (năm 1954), tôi đi ra Bắc tiếp tục học hành tại các trường phổ thông ở Hà Tĩnh, Hà Nội rồi làm nghề giáo viên ở Hà Nội cho đến năm 1976 thì được Bộ Đại học và THCN cử về Huế giảng dạy trường ĐH Tổng hợp Huế cho đến lúc về hưu năm 1999.

Như thế là tôi cũng đã sống trong tổ ấm gia đình với vợ con và được chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ già trong 35 năm cuối đời mẹ. Tôi cứ nhớ mẹ thường ngân nga câu hò khi mẹ ngồi bên cửa sổ nhìn ra hàng cau, vườn chuối mẹ buồn buồn khe khẽ than:
Mẹ già như chuối chín cây
Gió đưa mẹ rụng con rày mồ côi
Mồ côi khổ lắm ai ơi
Đói cơm rách áo con thời ai lo?
Cầu mong Trời Phật thương cho
Vượt qua số phận rủi ro hiểm nghèo…
Mỗi lần cứ nghe mấy câu hò đó là lòng tôi xốn xang xúc động. Mẹ tôi còn thuộc lòng bài thơ của tôi đặt và khắc sau bình phong trong lăng mộ ba tôi, hồi tôi mới về Huế.
          Đinh Hợi(năm 1947) cha về với Tổ tiên
          Mẹ buồn tủi phận dạ ưu phiền
          Tiếc cha sự nghiệp còn dang dở
          Thương mẹ cuộc đời quá bấp bênh
          Ba đứa con côi đau thỉnh thoảng
          Một mình mẹ góa bệnh thường xuyên
          Bà con nội ngoại đều thương cảm
          Giúp đỡ tận tình mãi chẳng quên…
Mỗi lần nghe mẹ tôi đọc những vần thơ ấy là tôi không sao ngăn được lòng mình xúc động và muốn khóc òa lên thật to như hồi còn bé nhỏ luôn được sống với tuổi thơ đầm ấm, gần gũi hàng ngày bên mẹ nghèo mà rất giàu tình cảm yêu thương.

          Tôi còn nhớ hồi năm 1956, mẹ tôi vượt giới tuyến 17 để ra Hồ Xá, Vĩnh Linh tìm tôi. Vì 2 năm không gặp con trai đầu, nên mẹ quá nhớ thương phải lặn lội ra Bắc để tìm con. Nhưng tiếc thay lúc ấy tôi đang ở nhà chú Bân để đi học trường Phan Đình Phùng thị xã Hà Tĩnh và cũng không hề biết tin ấy. Rồi tình cờ tôi gặp anh Phan Văn Gia (Dược sĩ TC là bạn học cũ với tôi) tại thị xã Hà Tĩnh, anh liền nói với tôi: "Ôi, mày ở đây mà mẹ mày ra Hồ Xá chạy khắp nơi để hỏi tin tức mày mà chẳng ai biết cả. Bà khóc lóc mấy ngày rồi trở về quê, thật đau xót. Nghe anh Gia nói vậy, tôi cũng liền khóc òa lên vì quá thương mẹ.
          Sau đó tôi nghĩ ra cách liên lạc với mẹ qua thư từ xem sao. Thỉnh thoảng tôi gửi thư về Nam qua BLL của đảng ủy Vĩnh Linh nhờ họ chuyển. Thế mà lại có kết quả. Cũng nhờ anh Lê Văn Hoan (CB nằm vùng ở Hải Lăng) là người rất quên thân với gia đình tôi và bà con làng Thượng Xá nên anh rất nhiệt tình giúp chuyển bí mật các bức thư của tôi đến tận tay cho mẹ. Sau này, tôi gặp anh Hoan, anh kể lại rằng, cứ mỗi lần đến gặp bà và đưa thư của Trân là bà cứ khóc hoài, thương lắm…
Thế mới hiểu lòng mẹ, tình con mãi vẫn còn./.



















Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016

                     VỀ THĂM LẠI PHỐ CỔ HỘI AN
                                      ==00==
Sau hai ngày đêm dạo chơi thành phố Đà Nẵng, chúng tôi đến thăm lại phố cổ Hội An mà không lên núi Bà Nà như năm ngoái nữa. Đến Hội An mua vé 70 ngàn đồng/một người để tham quan phố cổ.
Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng NamViệt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất.
Người ta giới thiệu về sự tích phố cổ này cũng khá tỷ mỉ. Vào thế kỷ XVI, chúa Nguyễn Hoàng thấy đây là nơi giàu có (vàng, yến sào, quế, đường, mật ong, thuốc lá Cẩm lệ, cẩm thạch... ) nên mới lập thành trấn và cử con trai là Nguyễn Phước Nguyên trấn giữ, mở cửa Hội An buôn bán với bên ngoài. Người Trung Quốc và người Nhật đến buôn bán và thường trú ở những phố riêng. Sau đó còn có người Hà Lan và những người phương Tây khác cũng đến buôn bán bang giao. có thể nói rằng, Hội An tỉnh Quảng Nam là một trong những nơi đầu tiên đón nhận luồng văn minh phương Tây trên đất nước ta.
Hội An có nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử: Hội Phố, Hoài Phố, Hải Phố, Hoa Phố... dù mang tên gì, nó cũng là một đô thị gồm có cảng, có chợ, có phố. Hiện nay, cảng không còn nữa, chỉ còn chợ và phố. Lịch sử Hội An bắt nguồn từ thời xa xưa, người Chiêm Thành cũng đã từng dùng đây làm cửa ngõ thông thương với bên ngoài. Với chúa Nguyễn, Hội An được mở rộng thành nơi trung tâm của Quảng Nam từ cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII.
Hội An nằm bên cửa Đại, nơi sông Thu Bồn đổ ra biển, rất thuận tiện cho tàu buôn ra vào. Người nước ngoài còn cư trú ở đây xây thành những khu phố riêng của họ: Phố Nhật, phố Tàu và một số thương điếm của người Hà Lan. Một bài ký sự của một nhà sư Trung Quốc đến đây hồi đầu thế kỷ XVII có ghi lại đại thể: Người Trung Quốc lập tiệm buôn đọc theo bờ sông, gọi là Đại Đường Nhai, hai bên hàng quán liên tiếp nối nhau, phố Nhật nằm ở phía đông phố khách. Người Nhật và người Trung Quốc là thương mại khách là chính trong các phiên chợ lớn hàng năm kéo dài tới bốn tháng liền. Hàng năm người Nhật mang đến 4 - 5 vạn nén bạc để cất hàng, còn người Trung Quốc thì mang tơ lụa và đặc sản đến đổi hàng. Gần đây, các cuộc điều tra và khảo sát các khu phố cũ đã được tiến hành, kết quả cho thấy còn nhiều di tích được giữ gần như nguyên vẹn sau những lần trùng tu mới nhất. Đặc biệt đáng chú ý mấy phố cổ của người Trung Quốc, cầu Lai Viễn và một số đền chùa cũ.
Phố Trung Quốc cũ chạy đọc theo bờ sông, gồm những ngôi nhà hình ống. Phía trước nhà là cửa hiệu, đoạn giữa là nhà ở, và phía sau là kho chứa hàng (cất từ thuyền dưới sông lên). Thông thường mỗi ngôi nhà như thế có ba mái chính, giữa các mái ấy là mái vỏ cua. Đi từ trước ra sau nhà, thấy như một ngôi nhà thống nhất. Những ngôi nhà này được dựng theo một mô-típ giống nhau,  giống nhau cả cách trang trí.
Khu phố cổ nằm trọn trong phường Minh An, diện tích khoảng 2 km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ. Nằm sát với bờ sông là đường Bạch Đằng, tiếp đó tới đường Nguyễn Thái Học rồi đường Trần Phú nối liền với Nguyễn Thị Minh Khai qua Chùa Cầu. Đường Trần Phú xưa kia là con đường chính của thị trấn, nối từ Chùa Cầu tới Hội quán Triều Châu. Vào thời Pháp thuộc, đường này được mang tên Rue du Pont Japonnais (tức Phố cầu Nhật Bản).  Hai con đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng hình thành muộn hơn. Đường Nguyễn Thái Học xuất hiện năm 1840, sau đó được người Pháp đặt tên là Rue Cantonnais (tức Phố người Quảng Đông). Đường Bạch Đằng ra đời năm 1878, nằm sát bờ sông nên xưa kia từng có tên gọi là Đường Bờ Sông.  Căn cứ vào văn bản của dinh trấn Quảng Nam thời Minh Mạng gửi trưởng bang Hoa kiều, Hội An phố gồm 6 làng: Hội An, Minh Hương, Cổ Trai, Đông An, Diêm Hộ, Hoa Phô. Nhà nghiên cứu người Pháp Albert Sallet cho rằng làng Hội An là làng quan trọng nhất trong năm làng tạo nên quần cư Hội An cổ, gồm Hội An, Cẩm Phô, Phong Niên, Minh Hương và An Thọ. Người phương Tây xưa kia gọi Hội An bằng cái tên Faifo.
Điển hình nhất về phố cổ Hội An là có chiếc cầu chỉ dài khoảng 18 m, có mái che, vắt cong qua một lạch nước chảy từ sống Hoài ra sông Thu Bồn. Năm  1719, chúa  Nguyễn Phúc Chu  thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn Kiều, với ý nghĩa là "Cầu đón khách phương xa". Về sau người ta xây thêm một gian thờ mà dân gian thường gọi là chùa Cầu. Tuy gọi là chùa nhưng bên trong không có tượng Phật. Phần gian chính giữa (gọi là chùa) thờ một tượng gỗ Bắc Đế Trấn Võ -là vị thần bảo hộ xứ sở, ban niềm vui hạnh phúc cho con người. Đó là thể hiện khát vọng thiêng liêng mà con người muốn gửi gắm cùng trời đất nhằm cầu mong mọi điều tốt lành.
Có bài thơ về Chùa Cầu thời xa xưa:
Ai đi phố Hội Chùa Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai?
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu.

Lai Viễn Kiều theo truyền lại do người Nhật dựng, vì thế gọi là cầu Nhật. Đó là những cầu nhỏ có mái che, đường to ở giữa, hai bên có lối đi riêng. Nền cầu hơi vồng lên ở giữa, trông như một vòng cung. Cầu ghép với một chùa ở bên. Xưa kia, cầu lát ván thưa, đứng bên trên có thể nhìn thấy cá bơi dưới lạch nước.
Chùa Bà Mụ xưa kia là của người Minh Hương. Chùa thờ Thiên mẫu thánh hậu và mười hai bà mụ, cầu cho thiên hạ thái bình. Chùa có tam quan rất đẹp, bóng tỏa xuống mặt nước bao la, trông thật thơ mộng. Những tượng thờ, đồ thờ trong chùa có trình độ điêu khắc khá tinh xảo.
Chùa của người Trung Quốc nhưng chủ yếu do những người thợ địa phương làm. Hội An tuy trải qua nhiều cuộc chiến tranh nhưng chưa bị tàn phá mấy. Nhìn chung đó vẫn là nơi độc nhất ở nước ta còn giữ được "phong độ" của một đô thị xưa. Hội An hiên nay đã thành một điểm du lịch quan trọng không chỉ ở Quảng Nam - Đà Nẵng mà của cả nước.
Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của  người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị xưa.
Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm  1999  (ngày 4 tháng 12), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một  di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí:
1.Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.
2.Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo.
Đến phố cổ Hội An, chúng tôi được thưởng thức mấy món ẩm thực dân gian thật độc đáo, trong đó có món cao lầu. Trước đây, nhiều du khách đã ăn và kể lại thì chẳng có gì đặc biệt cả, nhưng khi chúng tôi đến ăn và hỏi kỹ thì mới biết cách chế biến món ăn này rất kỳ công. Nhiều người dân sống lâu năm ở phố cổ bảo cao lầu có ở Hội An từ thế kỷ 17, trong thời điểm cảng Hội An mở cửa, cho phép nhiều thương nhân nước ngoài vào Hội An thông thương. Có lẽ vì thế mà món cao lầu có ảnh hưởng khá nhiều từ ẩm thực của người Hoa và cũng ảnh hưởng một ít từ món mì lạnh Udon của người Nhật.
Món cao lầu thịt heo tại quán Trung Bắc là điển hình nhất ở Hội An.  Món cao lầu Hội An vẫn mang đậm nét riêng của mình và duy chỉ có Hội An mới có món cao lầu đúng chất. Bởi, sợi cao lầu được làm từ gạo ngâm với nước tro, mà phải là loại tro được đốt từ gỗ cây dương liễu (phi lao) hoặc cây tràm ở Cù Lao Chàm rồi đem bột tro, rây lọc lấy bột mịn rồi khuấy trộn đều trong nước(ngày xưa người ta dùng nước giếng Bá Lễ), sau đó cho bột gạo hoặc bột mì nhồi kỹ và làm thành sợi to bằng chiếc đũa. Do vậy, sợi  cao lầu mới có màu vàng vàng mà không nơi nào khác có thể làm được. Sau đó, xào lên với các chất gia vị thơm lừng rồi bỏ vào các thứ như xá xíu thịt heo, tóp mỡ đã được rán giòn cho vào bát, bỏ thêm một ít rau thơm, xa lách hoặc rau diếp, dưa leo...Tiếp đó, chan nước lèo vào bát trộn đều lên rồi ăn và uống bia hoặc rượu nếp thì tât là khoái khẩu vô cùng.
Nước lèo của món cao lầu này là nước thịt xá xíu trộn lẫn với hạt mè (vừng) rang thơm ngon. Thứ nước lèo này chỉ được chan xâm xấp vừa đủ ướt và được ăn nguội, chứ không phải dùng nóng như các món có nước lèo khác. Ăn với món mì sợi cao lầu là thịt xá xíu kèm với tóp mỡ hoặc sợi cao lầu chiên giòn, rau sống (lấy từ làng rau Trà Quế), dùng kèm với nước tương và tương ớt.
 Ăn bát cao lầu này thấy vị đậm đà ngon miệng. Người ta kể rằng, ở phố cổ Hội An có đến gần cả chục quán hàng ăn có tiếng như: Thanh cao lầu, bánh đập xào hến quán Bà Già, bánh xèo quán Giếng Bá Lễ, Hoành Thánh quán Vạn Lộc, v.v … Nhưng chúng tôi chẳng có thời gian mà đến thưởng thức các món ngon ở những nơi đó. Nếu chúng tôi có dịp cư trú tại Hội An lâu thì cũng chịu khó để nếm cho biết mùi vị các thứ nhậu đặc sản ấy. Nhất định chúng tôi sẽ đến phố cổ Hội An lần nữa để biết thêm nhiều điều thú vị khác…

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016


THỜI TUỔI TRẺ- ĐẾN GIÀ NUA
                    =*0*=

Bài 1: Tuổi trẻ say mê kể cũng nhiều
Đàn ca thích bóng nhạy tình yêu
Mơ màng cuộc sống hòa tham vọng
Lãng mạn tâm hồn lẫn tự kiêu
Mấy lượt lời khuyên cần cẩn thận
Bao lần tự ý cứ làm liều
Về sau thất bại mới bừng tĩnh
Học tập đường đời được lắm chiêu…

Bài 2: Thân già biết phận tuổi hoàng hôn
Chẳng dám thi gan với sống còn
Trải nghiệm bao năm thành bạc tóc
Thăng trầm mấy dạo tạo lòng son
Giao lưu bè bạn càng chu đáo
Đối xử bà con cũng vẹn tròn
Sống khỏe tươi vui thêm tuổi thọ
Trung thành gắn bó với giang sơn…
                   =**=
(Thơ Nguyễn Hồng Trân tự cảm tác)


Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2016


                     VỀ THĂM LẠI HẢI PHÒNG,NHỚ MÃI KỶ NIỆM  XƯA
                                                               ==00==
Đối với tôi(nhà giáo Nguyễn Hồng Trân) và vợ tôi(BS. Thái Lê Phương) thì Hải Phòng là nơi có những kỷ niệm khó quên của một thời tuổi trẻ. Vợ tôi đã học trường học sinh Miền Nam ở đây trong mấy năm liền, còn tôi thì ngày xưa, hầu như hằng năm đều từ Hà Nội về Hải Phòng thăm bà con, bạn bè quen thân… Cũng có nhiều lần đưa sinh viên đi thực tập tại thành phố cảng công nghiệp này, như các nhà máy sản xuất xi măng, thủy tinh, ắc quy, đồ hộp, v.v…

Những địa danh, đường phố Hồng Bàng, Lê Lợi, dòng sông Cấm, bến phà Bính, bến cảng, nhà ga, chợ Sắt, cầu Thượng Lý, vườn hoa Loa Kèn, hiệu sách,… đều trở nên thân quen với chúng tôi. Nhất là quảng trường Nhà hát lớn Hải Phòng là nơi những người miền Nam thường đến đây trong những ngày thứ Bảy, Chủ nhật để gặp nhau chuyện trò, giao lưu cho đỡ nhớ quê nhà ở tận bên kia miền giới tuyến cầu Hiền Lương, Quảng Trị.
Tôi còn nhớ rõ hồi đó ở Hải Phòng tôi có một số người bà con nội ngoại như gia đình cậu mợ Lê Thanh Kỷ, Trần Thị Lan, gia đình chú Nguyễn Điển, anh Phan Thanh Biên Thùy, cô Phan Thị Phò, Phan Phỏng… và nhiều bạn bè quen thân như: Nguyễn Thị Lệ Minh, Nguyễn Thị Sương, Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Thị Xuân Vin, Nguyễn văn Lân, Trần Thanh Hùng… Nhất là anh Hùng đàn ghi-ta rất hay. Anh thường rủ tôi và một số bạn trẻ nam nữ thuê đò dạo chơi trên dòng sông Cấm trong những đêm trăng mùa hạ để cùng hát với nhau những bài tình ca lãng mạn như những bài: Nụ cười Sơn Cước của Tô Hải, Thiên Thai của Văn Cao, Ai về sông Tương của Thông Đạt, Sơn nữ ca của Trần Hoàn, Tình ca của Hoàng Việt… và cũng hát thêm những bài ca ngoại quốc như: Đôi bờ, Nỗi buồn của Shopin, Nhạc chiều của Sube…
Có rất nhiều kỷ niệm thân thương một thời tuổi trẻ tại Hải Phòng làm sao kể hết được!...
Nguyễn Hồng Trân xin cám ơn các bạn vào xem bài này và chia sẻ…

                    Hà Nội, tháng 5, năm 2016.







Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016


TẢN MẠN VỀ CHUYẾN THAM QUAN
CHIẾN TRƯỜNG XƯA -ĐIỆN BIÊN PHỦ.
                                            ==00==
                              (Bút ký của Nguyễn Hồng Trân)
Nhiều người trong nước và nước ngoài đã nghe về cái tên Điên Biên Phủ [ĐBP]-một chiến tích lịch sử oai hùng của quân và dân ta đã chiến thắng vẻ vang quân xâm lược Pháp vào ngày 7-5-1954.
Chúng tôi cũng rất mong có dịp đến Điện Biên để tham quan vùng chiến trường xưa này, nơi đã ghi dấu chiến dịch 56 ngày đêm "Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt" để làm nên chiến thắng ĐBP "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"; để cảm nhận được chiến công hiển hách của một thời lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Đây là lần đầu tiên cả gia đình con cháu chúng tôi lên tham quan miền Điện Biên lịch sử này trong 3 ngày. Chúng tôi bay từ Hà Nội lên đến Điện Biên trong một giờ và nghỉ lại tại khách sạn 4 sao Mường Thanh vào ngày 19-4-2016. Sau đó hàng ngày có xe dịch vụ du lịch đưa chúng tôi đi tham quan những điểm di tích lịch sử tiêu biểu của ĐBP như: Khu tượng đài chiến thắng ĐBP ở Đồi D1;Khu chiến địa ác liệt ở Đồi A1; Khu căn cứ điểm Tập đoàn chỉ huy quân Pháp tại ĐBP, có hầm chỉ huy của tướng Pháp Đờ Cát (De Castries); Sở Chỉ huy chiến dịch ĐBP của quân ta;Nhà Bảo tàng Chiến dịch Điện Biên; khu du lịch sinh thái vùng hồ Pá Khoang…
Buổi đầu tiên chúng tôi đến tham quan khu Tượng đài Chiến thắng trên đồi D1. Đây là một cứ điểm cao nhất của dãy đồi phía Đông Điện Biên, quân địch thuộc Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 3 đóng giữ. Vào lúc 17 giờ, ngày 30-3-1954, quân ta được pháo binh yểm trợ, 2 tiểu đoàn 166 và 154 (Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) đã tấn công chiếm được đồi D1 này. Sau đó Tiểu đoàn 154 lo chốt giữ vị trí để tạo thế tấn công của quân ta tiến đánh vào Trung tâm Tập đoàn Căn cứ địa của giặc. Giờ đây, trên đỉnh đồi này được dựng một tượng đài cao với hình tượng quân ta phất cờ chiến thắng.
Tiếp đó, chúng tôi đến tham quan căn hầm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm của giặc ở ĐBP. Đặc biệt khi đến xem căn hầm chỉ huy sở của tướng Pháp Đờ Cát, chúng tôi rất ấn tượng với sự tích nơi này là ngày kết thúc chiến dịch ĐBP, tổ anh Tạ Quốc Luật đã đến phất cao ngọn cờ chiến thắng của quân ta trên nóc hầm Tập đoàn chỉ huy của giặc. Ngoài ra, tôi còn nhớ có chuyện vào ngày 22-5-1954, làm lễ thành hôn cậu tôi là tướng Cao Văn Khánh(quê Thừa Thiên-Huế), nguyên Đại đoàn phó Đại đoàn chủ lực 308 tham gia chiến dịch ĐBP) cùng với mợ tôi là Nguyễn Ngọc Toản (nữ quân y sĩ của chiến dịch)  trong căn hầm này sau nửa tháng, ngày mà ĐBP hoàn toàn được giải phóng. Sau này cậu tôi kể với tôi rằng: " Cậu mợ yêu nhau trước khi vào chiến dịch ĐBP, nhưng vì chiến tranh đang tiếp diễn ác liệt nên cậu mợ chưa nghĩ đến chuyện cưới nhau, nhưng sau ngày quân ta toàn thắng ĐBP, ông Vương Thừa Vũ(Chính ủy, Đại đoàn trưởng Đại đoàn chủ lực 308) khuyên cậu mợ nên tổ chức thành hôn sau ngày thắng lợi lớn này của dân tộc là rất hay, rất có ý nghĩa… Vì thế nên cậu mợ đã trở thành vợ chồng trong một thời thế đặc biệt như vậy. Thật là một kỷ niệm nhớ mãi trong cuộc đời quân ngũ của cậu mợ…".
Sáng ngày hôm sau, chúng tôi đến tham quan vùng đồi A1. Đồi này là một căn cứ quan trọng bậc nhất trong 5 quả đồi phòng tuyến phía Đông của quân giặc để bảo vệ khu Trung tâm Tập đoàn cứ điểm Mường Thanh. Nơi đây quân địch bố trí nhiều binh lực, hỏa lực rất mạnh và công sự trận địa kiên cố. Trận tấn công đồi A1 là trận diễn ra ác liệt nhất. Qua 39 ngày đêm chiến đấu liên tục, quân ta đã đánh bại được 30 đợt phản công của địch. Hầm Chỉ huy kiên cố nhất của cứ điểm A1 của quân giặc bị các Đại đội 315 và 317(Tiểu đoàn 249, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316) của ta đã chiếm được vào đêm 6-5-1954.
Đến các địa điểm nào thuộc di tích các trận chiến năm xưa của chiến dịch Điện Biên, chúng tôi cũng cảm thấy rất xúc động khi hình dung lại những cảnh tượng ác liệt của chiến trường giữa quân ta và địch; bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh trên mặt trận này, nhất là những cuộc giao tranh ở đồi A1, đồi D1…
Những di tích lịch sử tại ĐBP đã để lại cho chúng tôi cũng như những du khách trong nước và ngoại quốc nhiều ấn tượng sâu sắc, động lòng xúc cảm. Nhất là chiến tích ở vùng đồi A1. Nơi đây quân Pháp xây đắp các đồn bốt kiên cố, có 5 lớp hàng rào giây thép gai và các bãi mìn xen kẽ để bảo vệ; có hầm hào giao thông từ thấp lên cao và có trang bị vũ khí trung liên, đại liên, súng cối… để đánh lùi quân ta từ dưới chân đồi lên dần. Do đó, quân ta nhiều lần đánh đồi A1 vẫn không thành công, bị hy sinh quân lính rất nhiều. Sau đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch ĐBP đã bàn mưu kế đánh thắng cho được đồi A1-một cứ điểm quan trọng của quân giặc nhằm tạo khí thế chiến đấu cho quân ta, đồng thời làm hoang mang tinh thần quân giặc. Mật kế đó là việc đào hầm ngầm sâu dưới đồi A1 dẫn đến trụ sở chỉ huy của giặc ở sát đỉnh đồi này. Sau đó, quân ta cho một khối lượng bộc phá lớn (960 kg) đánh nổ tung sở chỉ huy của giặc trên đồi, tiếp đó quân ta đã ào ạt xung phong lên chiếm lĩnh được đồi A1. Trận đánh thắng quân giặc ở đồi A1 này đã làm cho quân địch vô cùng hoảng hồn, lo sợ cho số phận các cứ điểm khác trong vùng Điện Biên.

Ngày hôm sau, chúng tôi đến thăm vùng núi đồi Mường Phăng là bản địa Sở chỉ huy chiến dịch ĐBP của quân ta. Tại đây có các lán trại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiếu tướng Hoàng Văn Thái. Các lán trại này sát bên vách núi và có căn hầm chiến lược dài 62 mét, vừa là nơi trú ẩn, vừa là nơi làm việc an toàn. Gần đó có lán làm việc của các cố vấn quân sự TQ như Vi Quốc Thanh, Trần Canh… Ngoài ra, trong vùng rừng núi này có thêm các lán trạm công vụ khác nữa.
Để cho du khách đi lên tham quan khu Sở Chỉ huy này, người ta đã tạo ra một con đường nhỏ có rải đá qua các đèo dốc, và các chiếc cầu bé bắc qua dòng suối nhỏ. Dọc đường này, chúng tôi thấy có nhiều em bé dân tộc đứng dọc đường chào khách du lịch: "cháu chào ông, chào bà; chào cô, chào bác…". Các em bé chỉ chào thôi chứ không chìa tay xin tiền hay xin quà như một số nơi du lịch khác. Nếu du khách có cho cây bút hay quyển sổ thì các em bé vui vẻ và nói lời cảm ơn.
Đến thăm Nhà Bảo tàng chiến thắng ĐBP, chúng tôi càng biết thêm được nhiều sự tích về tinh thần vượt gian khó, kiên cường, quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng của quân và dân ta. Như chuyện kéo pháo vào, kéo pháo ra, rồi kéo pháo vào; bí mật đào hào ngầm lên đồi A1 và chiến đấu hy sinh anh dũng mấy chục đêm ngày; chuyện hàng chục nghìn đồng bào các tỉnh Nghệ An,Thanh Hóa, Ninh Bình, và các tỉnh vùng Tây Bắc… đã đi dân công vận tải lương thực, vật dụng phục vụ cho chiến dịch ĐBP cũng bị hy sinh khá nhiều.
Nhà Bảo tàng chiến dịch ĐBP này có hai tầng với kiểu dáng hình tròn, trông rất khang trang, hoành tráng. Nhưng rất tiếc là nội dung trưng bày trong Bảo tàng này vẫn chưa phong phú lắm, cần sưu tầm thêm những hiện vật đặc trưng nhiều hơn nữa; cần có một sa bàn mô hình sinh động tổng hợp; có máy chứa các bài ghi âm hay phim tài liệu(có chọn lọc chất lượng) liên quan đến chiến thắng ĐBP… để phục vụ có hiệu quả cho du khách muốn tìm hiểu về chiến thắng ĐBP.
Trong chuyến du lịch Điện Biên lần này, chúng tôi có dịp đến tham quan khu sinh thái vùng hồ Pá Khoang. Chúng tôi đi thuyền máy dọc lòng hồ và lướt qua nhiều hòn đảo, luồn qua dưới mấy cầu treo vững chắc rồi đến đảo hoa anh đào. Loài hoa này do công ty du lịch Nhật Bản hợp tác trồng từ năm trước. Vùng hồ này rất rộng với diện tích mặt nước toàn hồ là 620 hécta. Đây là hồ nhân tạo do người ta chắn các con sông, con suối làm dâng nước để chạy nhà máy thủy điện cung cấp điện năng cho cả tỉnh Điên Biên.
Ngoài các điểm tham quan du lịch trên, ban đêm chúng tôi đến xem khu Resort Him Lam ở gần trung tâm thành phố. Tại đây có một khu nhà sàn bằng gỗ lim lớn nhất Việt Nam. Khu nhà sàn này xây dựng với dáng dấp kiểu cách mang tính dân tộc, nhưng trông rất sang trọng và rất đẹp. Tại đây có nhiều nhà nghỉ, có công viên vui chơi, có hồ nước với các chiếc cầu xinh xắn, ban đêm những dãy đèn trên cầu tỏa ánh sáng xuống mặt hồ lung linh như những vì sao đang vui đùa tắm mát. Những buổi tối, tại đây có sự giao lưu văn nghệ hoặc nhảy múa của du khách thật sôi động, hào hứng...
Sau đó, chúng tôi rủ nhau đến một quán ăn cô Bê sát cạnh nhà Văn hóa của Bản Ten để liên hoan các món ẩm thực đặc sản của miền Điện Biên cùng với các du khách từ nhiều nơi đến đây. Không khí chan hòa thân thiện giữa các dân tộc miền xuôi, miền ngược rất đầm ấm, vui tươi thoải mái…
Sáng ngày cuối cùng, trước khi bay về Hà Nội, chúng tôi chạy xe dạo quanh thành phố Điện Biên, chạy dọc đại lộ Võ Nguyên Giáp(dài 6 Km) sang đường Nguyễn Hữu Thọ đến chỗ nhìn rõ con sông Nậm Rốm hiền hòa mang ánh đất phù sa chảy về xuôi lặng lẽ.  Lúc sang đến một con đường có nhiều cây hoa ban đang nở trắng xóa trên cành trông rất đẹp mắt. Chúng tôi dừng chân chụp ảnh kỷ niệm dưới những cây hoa ban đặc trưng của miền rừng núi Tây Bắc này.  Cây hoa ban, nó rất giống cây móng bò. Lá của nó giống hoàn toàn như móng bò, nhưng cây móng bò thì có hoa tim tím và về sau thì có trái như trái keo; còn cây hoa ban thì hoa trắng hoặc phớt hồng. Đồng bào vùng này nói rằng, hoa ban có thể xào nấu ăn được và nó không có trái như cây móng bò. Tiếp đó, chúng tôi đi về chợ Mường Thanh, vào mua mấy thứ đặc sản về làm quà cho gia đình, bà con…
Buổi chiều, chúng tôi ra sân bay Mường Thanh để bay về Hà Nội. Trong khi ngồi chờ máy bay, tôi mở máy ghi âm để nghe rõ lại những lời thuyết minh của cô dẫn du khách tham quan:
"Trận ĐBP là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương  diễn ra tại vùng Mường Thanhchâu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên), giữa  Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và quân đội Liên hiệp Pháp.
Theo Tổng kết Chiến dịch ĐBP của Bộ Quốc phòng thì toàn bộ chiến dịch ĐBP ta huy động hơn 60 nghìn quân, gồm 10 Trung đoàn bộ binh, 1 Đại đoàn công binh và pháo binh; Quân giặc huy động 16 ngàn quân, một Đại đội xe tăng, một Phi đội máy bay, 420 máy bay, thả 5.000 tấn bom. Tổn thất binh sĩ của quân ta trong chiến dịch Điện Biên là: 4.020 tử trận, 9118 bị thương. Phía quân giặc tử trận 2.293 và bị thương 6.650. Số quân Pháp bại trận ra hàng bị ta bắt tù binh là 11.721. Về trang bị, khí tài của giặc có 59 phi cơ bị phá hủy, 186 phi cơ bị đúng đạn hư hại, rất nhiều loại vũ khí nặng, xe tăng bị hỏng. Quân ta thu được 3 xe tăng, 28 đại bác, 5915 súng các loại và rất nhiều quân trang, quân dụng…
 Chiến thắng ĐBP là một thắng lợi quân sự lớn nhất trong cuộc  kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 của Việt Nam. Bằng thắng lợi quyết định  này, lực lượng QĐNDVN do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc quân Pháp tại Điện Biên Phủ với tên Tổng chỉ huy Đờ Cát phải đầu hàng vào ngày 7 tháng 5 năm 1954 và sau đó quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương".

Trong dịp du lịch lên chiến trường xưa Điện Biên này, chúng tôi cảm nhận được nhiều điều thú vị về cảnh vật, con người và những di tích lịch sử hào hùng của quân và dân ta trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Chúng tôi nhìn thấy du khách đến đây hàng ngày rất đông. Hy vọng rằng có sự quan tâm tích cực của Nhà nước và các ngành chức năng sẽ tạo điều kiện cho Điện Biên có sự phát triển toàn diện của vùng đất mang dấu ấn lịch sử vẻ vang của dân tộc./.
                                             NHT
                 (Hà Nội, mùa hè năm Bính Thân -2016)


Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016


ẢNH HƯỞNG VỀ MẠNG TUỔI
TƯƠNG SINH –TƯƠNG KHẮC VỚI NGŨ HÀNH TINH
ĐỐI VỚI NĂM BÍNH THÂN & ĐINH DẬU
* * *

        Theo quy tắc của âm dương ngũ hành tinh liên hệ với mạng tuổi Thiên Can và Địa Chi thì cứ hai năm Âm lịch đều có chung một hành danh. Đối với năm Bính Thân(2016) và năm Đinh Dậu (2017) là thuộc hành HỎA (Sơn hạ hỏa= Lửa dưới núi).
*Xét về mặt ảnh hưởng tốt:
Căn cứ vào quy tắc "tương sinh –tương khắc" thì những năm Bính Thân (2016) và Đinh Dậu (2017) đều thuộc hành Hỏa là "tương sinh" với hành Thổ. Vì thế nên có thuận lợi cho các tuổi Dương có mạng Thổ như: Canh Tý, Canh Ngọ; Bính Tuất, Bính Thìn; Mậu Thân, Mậu Dần. Và cũng thuận lợi cho các tuổi âm thuộc mạng Thổ như: Tân Sửu, Tân Mùi; Đinh Hợi, Đinh Tị; Kỷ Dậu, Kỷ Mão. Do đó, những người ứng với bổn mạng Thổ này thì có thể tiến hành các việc hệ trọng đối với bản thân là tương đối suôn sẻ, thành đạt.

        *Xét về mặt ảnh hưởng xấu:
Căn cứ vào quy tắc "tương sinh –tương khắc" thì những năm Bính Thân (2016) và Đinh Dậu (2017) đều thuộc hành Hỏa là "tương khắc" với hành Kim. Vì thế nên không tốt cho các tuổi Dương có mạng Kim như: Giáp Tý, Giáp Ngọ; Canh Tuất, Canh Thìn; Nhâm Thân, Nhâm Dần. Như thế là có hại, cần phải cẩn thận đề phòng và không nên tiến hành những việc hệ trọng đối với bản thân. Còn qua năm Bính Thân đến năm Đinh Dậu (2017) thì sẽ "tương khắc" với các tuổi âm cũng mạng Kim như: Ất Sửu, Ất Mùi: Tân Hợi, Tân Tị; Quý Dậu, Quý Mão. Như thế cũng có hại cho những người có các mạng tuổi này.
*Ngoài ra năm Bính Thân (2016) và năm Đinh Dậu sang năm (2017) còn có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe bị hao tổn do các tuổi dương thuộc mạng Mộc phải tương sinh cho năm Hỏa. Đó là các tuổi như: Mậu Tuất, Mậu Thìn, Canh Thân, Canh Dần; Nhâm Tý, Nhâm Ngọ. Sang năm Đinh Dậu(2017) thì các mạng tuổi âm sẽ bị hao tổn sức khỏe do phải tương sinh cho năm âm thuộc hành Hỏa. Đó là các tuổi:Kỷ Hợi, Kỷ Tị; Tân Dậu, Tân Mão; Quý Sửu, Quý Mùi.

Theo thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH nói chung là như thế, nhưng còn phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nữa. Vì vậy, việc ảnh hưởng tốt và xấu do mang danh ngũ hành tạo nên cũng chỉ là tương đối mà thôi. Do đó không nên quá đắc chí hay bi quan khi ứng với mạng tuổi mình là "tương sinh" hay "tương khắc"./.