Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014

            ĐỂ LẠI ĐỨC DÂN THƯƠNG
 (Nguyễn  Hồng Trân kính gửi đến các Nhà nước đang có chiến tranh)
Em bé ngủ yên giấc
Mong sao không giật mình
Vì ầm vang tiếng súng
Cầu nguyện được an bình.

Em bé đang vui chơi
Đừng làm em tắt cười
Vì bom đạn khủng khiếp
Hãy chặn lũ điên người.

Gây chiến tranh tàn ác
Phố phường đổ nát tan
Dân lành càng chết chóc
Thảm cảnh quá điêu tàn…

Người đứng đầu Nhà nước
Hãy lo liệu dẫn đường
Sao cho dân bớt khổ
Để lại đức dân thương.
          ==00==
Hà Nội tháng 8, năm 2014.



Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

        NHỚ LẠI ĐÊM HỘI CARNAVAL TẠI HẠ LONG
               (Nguyễn Hồng Trân sưu tầm và giới thiệu)
Đêm hội Carnaval Hạ Long 2014 đã diễn ra vào tối 30/04 thu hút hàng vạn du khách đến với sâu khấu bờ biển lớn nhất miền Bắc.
Gần 4.000 diễn viên chuyên nghiệp và nghiệp dư cùng nhau tạo nên một cuộc đại trình diễn trên một "sân khấu" lớn có chiều dài trên hơn 1km dọc đường Hoàng Quốc Việt, phường Hùng Thắng, TP. Hạ Long.
Từng đoàn nam nữ diễn viên về đây tham dự với nhiều màu sắc phong phú nổi bật. Trong đó có nhiều nữ diễn viên nước ngoài đến tham gia trình diễn rất hào hứng, nhiệt tình tại vùng du lịch nổi tiếng vịnh Hạ Long của Việt Nam. Nơi đây, một địa điểm danh tiếng là Di sản Thiên nhiên của thế giới, và đặc biệt Vịnh Hạ Long trong năm  trước đây mới được bình chọn và Hội đồng Di sản quốc tế đã công nhận vinh Hạ Long là một trong 7 kỳ quan mới của thế giới.
Như vậy, đất nước Việt Nam chúng ta rất vinh hạnh có được  thêm điểm sáng tỏa ánh hào quang cho ngành du lịch Việt Nam thăng hoa để cùng sánh vai với ngành du lịch các nước khác trong vùng.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

  LÀNG QUÊ LUÔN IN BÓNG MẸ HIỀN
                      Nguyễn Hồng Trân
(Kính dâng lên hương hồn mẹ
nhân dịp VU LAN-BÁO HIẾU 2014)
                ==00==
Xa hương luôn nhớ về quê,
Ngày xưa có mẹ đi về cùng con.
Chiến tranh lòng mẹ héo hon,
Mong ngày thống nhất, nước non thanh bình.
Quê hương đã được hồi sinh,
Nhà cửa, vườn tược, chùa đình khang trang.
Niềm vui khắp cả dân làng,
Canh khuya tiếng hạc rộn ràng gọi nhau.
Trong vườn hoa trái đổi màu,
Cam chanh, đào lựu, cau trầu tốt tươi.
Nhiều lần sấm sét vang trời,
Mưa rào đổ xuống vài nơi bất ngờ.
Đêm nằm chợt tỉnh, chợt mơ.
Thấy mẹ trải nắng, dầm mưa tháng ngày.
Cuộc đời vất vả đắng cay,
Một mình góa bụa khổ thay thân già.
Mỗi lần nhớ đến quê ta,
Hình ảnh của mẹ được bà con thương.
Giờ đây tuy sống xa hương,
Nhưng lòng con cứ vấn vương bao tình...
                    ==00==
   (Hà Nội, ngày rằm, tháng 7, năm Giáp Ngọ=2014)

  XIN DÂNG NÉN HƯƠNG LÒNG
       LÊN BÀN THỜ BA MẸ DỊP VU LAN BÁO HIẾU
(Nguyễn Hồng Trân giới thiệu bài của nữ BS. Thái Lê Phương)
                              ==00==
Ba má vô cùng thương yêu của con!
Đã quá lâu rồi vào mùa VU LAN -báo hiếu, con lại nhìn lên bàn thờ nhớ về ba má. Thực ra đã gần 25 năm trời ba đã từ biệt cõi dương và 15 năm má cũng theo ba, con chưa bao giờ ngừng nghĩ nhớ thương ba má. Dù nay con đã có gia đình và cũng đã đi gần hết phần đời của mình, nhưng lúc nào con cũng thấy cô đơn và trống vắng.
Nhớ đến khuôn mặt và nụ cười hiền hậu của ba má cứ hiện ra trước mắt con như mới đây thôi, rất gần gũi yêu thương mãi bên con. Đặc biệt là má, người phụ nữ, người vợ, người mẹ suốt đời đã hy sinh cho chồng con mà chẳng lo gì cho bản thân cả. Ba đi bộ đội ở tiền tuyến xa xôi, thỉnh thoảng mới về thăm gia đình được. Má lúc nào sinh các con cũng một mình vất vả, không người thân săn sóc; lại còn có lúc bị giặc thù bắt bớ, tù đầy vì là gia đình kháng chiến chống giặc Pháp. Các con khi khôn lớn đều ở xa chưa làm được gì để giúp đỡ má. Những năm tháng chiến tranh, ba đi chiến trường rồi con cũng đi về phía đó theo tiếng gọi của quê hương đất Việt. Má cứ thui thủi một mình lao động, tần tảo nuôi con. Các con lớn lên trưởng thành vào lúc đất nước khó khăn nên cũng chưa làm gì để báo hiếu được cho ba má. Rồi chúng con có gia đình và bận bịu theo con cái, công việc nên chúng con cũng chưa giành được thời gian để chăm sóc ba má.
Ba má ơi! điều này làm con ân hận cho đến bây giờ và mãi mãi. Con hiểu lúc đó, ba má mong chúng con đến nhường nào! Những lúc về nhà rồi ra đi, ba đi theo tiễn con đến đầu ngõ nhìn theo con qua hàng cây bạch đàn cho đến lúc con khuất bóng... Con nhớ có hôm con về muộn  9 giờ tối, thấy má vẫn còn ngồi đầu ngõ, nơi cửa hàng chị Hóa để trông con về. Bước chân vào nhà, con thấy mâm cơm trên bàn đã nguội lạnh, má vẫn chờ con. Ôi, con thương má vô cùng má ơi!...
Giờ đây khi con hiểu được gía trị những ngày gia đình mình gần nhau, quý hóa đến chừng nào thì chúng con đã không còn ba má nữa để mà đi về; mà nhớ mong, mà chăm sóc... Khi con có gia đình, có con cái thì con càng hiểu tấm lòng của ba má đối với chúng con. Má luôn lo lắng cho chúng con, luôn dõi theo mỗi bước con đi và chăm sóc chúng con lúc trở về.
Má ơi, má là người mẹ tuyệt vời của chúng con! Chúng con tự hào vì được làm con của ba má. Má là người mẹ suốt đời lặng lẽ hy sinh vì chồng, vì con cháu... mà đúng như câu thơ nào đó đã viết: “Mẹ là người mẹ cho đi mà không đòi lại bao giờ...”.
Ba má ơi, chúng con nhớ ba má biết chừng nào! Cầu mong ba má bình an, siêu thoát nơi chín suối vĩnh hằng.
Chúng con xin dâng nén hương lòng lên mùa VU LAN-BÁO HIẾU năm Giáp Ngọ (2014) này với bao niềm tri ân thương tiếc mẹ cha !...

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

VỢ CHỒNG BILL GATES ĐÃ  BỎ HÀNG TỶ ĐÔLA
CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH TỪ THIỆN.
            (Nguyễn Hồng Trân sưu tầm và giới thiệu)
Nhà sáng lập tập đoàn vi phần mềm (Microsoft) Bill Gates đã cùng vợ là Melinda Gates đã bỏ ra hàng tỷ USD làm từ thiện để góp phần cứu giúp hàng triệu người trên toàn thế giới giảm bớt khó khăn, bệnh tật…
 10 Dự án  được vợ chồng ông đã xuất tiền ủng hộ là:
1. Nghiên cứu về quả chuối
Quỹ Gates đang tài trợ cho việc nghiên cứu để bổ sung chất sắt và Vitamin A vào chuối. Sau khi được biến đổi, giống chuối này sẽ được phân phối ở Uganda. Một nhà khoa học của trường Đại học Queensland, Australia đang thực hiện dự án trên, nói: "Chúng cũng là một trong những thực phẩm cai sữa tốt nhất cho trẻ em. Chúng sẽ được đóng gói trong điều kiện vô trùng và không cần nấu chín”.
2. Loại trừ hoàn toàn bệnh bại liệt
Các ca bại liệt đã giảm xuống 99% và quỹ Gates muốn loại bỏ hoàn toàn căn bệnh này. Quỹ đã thực hiện một chương trình tiêm chủng tích cực và việc tiến hành đang được thúc đẩy cho một số khu vực còn lại trên thế giới.
3. Làm giảm bệnh sốt rét
Quỹ Gates vừa giúp đỡ các ca nhiễm sốt rét ở Zambia bằng việc đầu tư vào một chương trình thử nghiệm. Theo đó, chương trình này giúp người dân nằm trong giường có màn trừ muỗi và giúp họ phun thuốc xịt muỗi trong nhà. Dự án này đã hoạt động tốt và hoàn thành ở các quốc gia khác. Ngoài ra, quỹ Gates cũng đầu tư vào việc tìm kiếm vắc-xin phòng bệnh sốt rét và các loại thuốc diệt muỗi mới.
4. Biến phân thành năng lượng sinh học
Nhà khoa học Katarik Chandran nhận được 1,5 triệu USD tiền trợ cấp từ quỹ từ thiện của Bill Gates, để thực hiện dự án biến phân người thành năng lượng diesel sinh học. Nếu thành công, nó sẽ là cách tuyệt vời để biến chất thải người thành một thứ hữu dụng.
5. Tăng 'sức khỏe' cho cây sắn
Quỹ Gates đã tài trợ cho một nhóm nghiên cứu nhằm làm giảm chất xyanua tự nhiên trong củ sắn. Ngược lại, nó làm tăng protein, sắt, kẽm, vitamin A và E để tạo sức đề kháng với những căn bệnh mới của cây sắn. Sắn là loại lương thực phổ biến với 800 triệu người trên toàn thế giới.
6. Chi 42 triệu USD để sáng chế toilet
Bill Gates muốn giúp đỡ 40% người trên thế giới không có nhà vệ sinh cần thiết, bằng cách xây dựng những toilet độc lập mà không cần đường nước hoặc điện, để biến chất thải thành năng lượng, nước sạch hoặc các chất dinh dưỡng.
7. Chi 2 tỷ USD để chống lại HIV
Quỹ Gates đã đóng góp một phần nhỏ làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV mới từ năm 2001 đến 2008. Quỹ này bỏ tiền vào vắc-xin, ngăn chặn sự bùng phát của căn bệnh thế kỷ ở Châu Phi và làm giảm chi phí điều trị của người bệnh.
8. 1,5 tỷ USD cho phụ nữ và các vấn đề sức khỏe trẻ em
Ngày 7/6/2010, bà Melinda Gates tuyên bố Quỹ Bill & Melinda Gates sẽ tài trợ 1,5 tỷ USD trong vòng 5 năm tới, để hỗ trợ các dự án của nước ngoài liên quan tới chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em. Khoản tiền này sẽ được đầu tư đến hết năm 2014 và phần lớn được hỗ trợ cho các chương trình triển khai tại Ấn Độ, Ethiopia và một số nước có tỷ lệ phụ nữ và trẻ em tử vong cao.
9. Nghiên cứu dùng muỗi tiêm vắc-xin
Năm 2008, quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates thông báo tài trợ 100.000 USD cho các công trình nghiên cứu khoa học, nhằm phòng chống hoặc điều trị các bệnh lây nhiễm như HIV/AIDS và lao, tìm cách hạn chế sự kháng thuốc ngày càng tăng. Trong đó, có giải pháp của Hiroyuki Matsuoka ở Đại học Y khoa Jichi (Nhật Bản), biến muỗi thành loại “xi-lanh bay” để tiêm vắc-xin cho người.
10. Kêu gọi các tỷ phú khác quyên tiền
Vợ chồng Bill Gates không chỉ muốn có gia đình mình ủng hộ cho quỹ từ thiện, mà còn muốn các tỷ phúc khác làm điều tương tự. Càng nhiều tiền được đóng góp, cuộc chiến chống lại các căn bệnh trên toàn thế giới càng hiệu quả hơn. Nỗ lực này nhận được sự ủng hộ của tỷ phú, nhà đầu tư Warren Buffett. Đến nay, có ít nhất 40 gia đình và cá nhân giàu có nhất Hoa Kỳ, bao gồm ít nhất là 30 tỷ phú đã hứa hiến tặng ít nhất là một nửa số tài sản của họ cho việc từ thiện.
                                         ==00==
    

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

CẢM XÚC NHÌN NÚI ĐÔI           
    (Kính tặng hương hồn nữ liệt sĩ Trần Thị Bắc)

Sát cánh bên nhau ngắm đất trời,
Núi tình đôi bạn đứng song đôi.
Vợ chồng chung thủy như hình núi,
Trai gái nặng tình tựa biển khơi.
Non nước hồn thiêng tuôn mạch sống,
Giang sơn hùng vĩ đọng duyên đời.
Khen cho tạo hóa thành hình tượng,
Để mãi suy tư đến phận người!...
              (Nguyễn Hồng Trân)
                        
Ghi chú: Núi Đôi- là cặp núi song đôi ( tại làng Xuân Dục và Đoài Đông thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, nay thuộc Hà Nội), trông thật ấn tượng, thật đáng yêu! Ai đi đến đây cũng phải dừng chân đứng lại ngắm nhìn và cảm xúc.
Thời Pháp xâm chiếm nước ta, có bài thơ của Vũ Cao  về Núi Đôi đã làm cho mọi người xúc động, nhớ thương …

Bảy năm về trước em mười bảy
Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới, bữa anh sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.
…

“Bài thơ Núi Đôi đ­ược Vũ Cao sáng tác trong lần ông nằm điều trị tại Bệnh viện 74 ở Sóc Sơn vào năm 1956, được nghe câu chuyện tình từ đồng đội và dân xã Phù Linh về cô gái tuổi 20 đã hy sinh anh dũng ở Núi Đôi để bảo vệ đoàn cán bộ. Ngư­ời con gái trong bài thơ là Trần Thị Bắc - một nữ du kích Việt Minh quê ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (Xuân Dục - Đoài Đông), xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn (nay thuộc Hà Nội). Trần Thị Bắc hy sinh ngày 21-3-1954 khi lọt vào ổ phục kích của địch. Trên thực tế, cô Bắc đã có chồng là anh Trịnh Khanh chứ không phải mới có ngư­ời yêu như­ tác giả của bài thơ đã nghĩ. (Theo báo QĐND  Thứ Năm, 05/08/2010).
Ông Trịnh Khanh nay vẫn còn sống ở tuổi 80, nhiều người bạn cựu chiến binh đã nói rằng  năm 1976, sau khi hòa bình thống nhất đất nước, ông Trịnh Khanh, chồng của cô Trần Thị Bắc tìm đến nhà thơ để cám ơn, vì đã viết hộ lòng mình nỗi xúc động sâu sắc với người vợ chỉ sống được với ông có hai ngày nên nghĩa phu thê.
Ông Khanh kể, tình yêu ở tuổi đôi mươi, mười tám quả là hết sức lãng mạn. Tất cả đều dành cho đất nước. Hai người gặp nhau ở vùng tự do, tình yêu đã nảy sinh giữa người chiến sĩ và cô y tá ngày ấy. Sau vài năm, hai người đã làm lễ cưới và sống bên nhau được đúng hai ngày, thì phải chia tay. Nữ quân báo Trần Thị Bắc trở lại Núi Đôi hoạt động. Còn anh lính trẻ Trịnh Khanh lên đường vào chiến dịch. Sau đó mới biết tin cô Bắc đã hy sinh.(Theo nhà báo Lưu Kường trong bài: “Về thị trấn tình yêu”, đăng trong báo Hà Nội mới ngày 26-7-2014)

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

                 QUẢ MÍT TẠO HỒN
                      Nguyễn Hồng Trân
Nói đến quả mít thì chắc nhiều người đều biết và cũng đã từng thưởng thức mùi vị khi ăn mít chín thật thơm ngọt nhẹ nhàng, đậm đà hương vị miền quê. Tại làng tôi, nhà nào cũng có trồng nhiều cây mít. Quả mít là món ăn dân gian quen thuộc ở quê tôi từ xưa đến nay. Từ quả mít non đến quả mít chín, đều được các bà, các chị ưa thích đã tạo ra nhiều món ăn giản dị nhưng hợp khẩu vị cho mọi người dùng. Như quả mít non thì dùng nấu canh mít với một ít lá lốt; hoặc luộc chín, thái lát ra rồi chấm với nước tương, hoặc nước lèo, nước ruốc để ăn với cơm rất ngon. Ở Huế người ta còn làm món nộm hỗn hợp mấy vị: vừng lạc với quả vả luộc chín thành món trộn bùi bùi, chát chát, béo béo rất thơm ngon rất hấp dẫn khẩu vị…
Còn mít chín thì cắt quả mít ra, bóc từng múi mà ăn. Có hai loại mít chín dễ phân biệt. Đó là mít dai và mít nhảo (có nơi gọi là mít ướt). Mỗi loại đều có mùi vị riêng. Các cụ già thường thích ăn mít nhão, còn thanh thiếu niên thì ưa ăn mít dai. Riêng tôi, hồi trai trẻ cho đến bây giờ, tôi cứ thích ăn cả hai loại cho biết mùi vị của loại trái quả làng quê này. Nay tôi đang ở xa quê hương và cứ mỗi lẫn nhớ đến quê mình, tôi đều nhớ đến quả mít, chùm dâu, trái vả…
Những thứ đó rất quen thuộc với tôi, nhưng gần đây có người bạn gửi cho tôi bức ảnh trái mít thật có hình dáng “mẹ bồng con”. Ôi, nhìn thấy lạ quá! và đặc biệt quá! Cả đời tôi chưa thấy quả mít có hình dáng ấy bao giờ. Nhìn vào quả mít, tôi cảm thấy như nó có hồn… và tôi xúc cảm đặt một bài thơ Đường luật để lưu niệm. Xin mời quý vị xem cho vui.

Nhìn vào quả mít- mẹ bồng con,
Tạo hóa thiên nhiên thật có hồn.
Hoa trái vườn nhà, gây ấn tượng,
Cỏ cây nương rẫy, tạc lòng son.
Ai đi xứ lạ lòng mong nhớ,
Người ở quê nhà dạ héo hon.
Cánh nhạn bay về niềm thổn thức,
Tình người xúc động nghĩa vuông tròn…
           Hà Nội ngày 17-7-2014

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Bài thơ vui:
LÀM THÂN GÀ TRỐNG
                ==00==
             (Nguyễn Hồng Trân sưu tầm và giới thiệu)

Lạy Chúa! con tạ ơn Người!
Con thành gà trống cuộc đời tự do.
Tha hồ mà gáy o…o,
Cả ngày đạp mái, không lo trả tiền.
Đến lúc về với tổ tiên,
Được làm sạch sẽ nằm trên bàn thờ.
Thế là cũng thỏa ước mơ,
Làm thân gà trống được nhờ mái yêu.
Dù cho mỏi mệt bao nhiêu,
Cũng vui, cũng thích, cũng liều cái thân!...
                                       Bút Lông

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

   PHONG TỤC DÂN GIAN VIỆT NAM CHỌN NGÀY LÀNH THÁNG TỐT
                                                   ==00==                                                      
Phong tục dân gian Việt Nam ta về "chọn ngày lành tháng tốt"[NLTT] đã có từ lâu đời do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa truyền sang nước ta trong cả thời kỳ Bắc thuộc. Phong tục này đã thấm sâu vào tâm thức người Việt từ xưa và kéo dài cho đến ngày nay. Hễ cứ làm việc gì quan trọng của cá nhân, gia đình, họ hàng, làng xã...đều thường chọn NLTT mới tin việc sẽ được an lành, thông đạt. Nghĩa là mọi việc sẽ   thuận lợi và thành công tốt đẹp. Như chọn ngày giờ cho các việc: xuất hành, hôn nhân, xây cất, an táng, tế tự v.v...        
Cũng chẳng biết thực hư thế nào; hay dở thế nào thì dân chúng  chưa biết rõ, nhưng nghe thấy người ta tin vào chuyện đó thì cũng làm theo. Nhiều người không hiểu ý nghĩa ra sao cứ thấy ai cũng làm mà mình không làm thì không yên tâm. Về sau nhỡ có chuyện gì xui xẻo, khốn khổ thì người ta lại nói xoi xỉa cho thì đau lòng, xót dạ lắm.
Thực ra vấn đề này cho đến ngày nay khoa học cũng chưa khám phá ra được điều gì để khảng định nên tin hay không tin. Cái gì nên giản lược đi, cái gì nên giữ lại cho hợp thời và giữ được nét đẹp của văn hóa dân tộc. Không nên bày biện quá nhiều những thủ tục rờm rà phức tạp. Ai cũng muốn thế, nhưng biết làm thế nào? Có cái gì đó khiến người ta cứ âm thầm chấp nhận cho yên chuyện. Đó chính là yếu tố tâm lý. Nghĩa là làm việc gì quan trọng cũng phải xem xét cẩn thận, nghiêm chỉnh, không nên qua loa, đại khái. Việc chọn NLTT là một trong những yếu tố  quyết định niềm tin thành công tốt đẹp của họ. Sau đó lễ vật, cách thức tiến hành là tùy theo hòan cảnh, khả năng kinh tế của chủ nhân mà thực hiện.
   Do nhu cầu phong tục về chọn NLTT của nhân dân đề tiến hành các việc hệ trọng mà trong xã hội phát sinh ra một số "thầy coi" phục vụ kịp thời. Trong số đó có một số người lợi dụng lòng tin của dân làm phù phép thêm để lấy tiền. Thực chất những người đó chưa hiểu biết gì sâu sắc về văn hóa dân tộc và mê tín dị đoan nên họ cứ làm liều như những người "điếc không sợ súng".
  Ngày nay đã có nhiều sách xuất bản chính thức nói về  phong tục Việt Nam, trong đó có việc chọn NLTT. Chúng ta nên xem và truyền cho nhau kinh nghiệm thực hiện cho chủ động và giản tiện hơn. Không nên đi  xem "thầy coi"  mất công, tốn tiền. Chẳng hạn có thể tìm đọc các sách: "Phong tục Việt Nam" của Toan Ánh, "Việt Nam phong tục" của Phan kế Bính, "Bàn về lịch Vạn niên" của Tân Việt v.v... Trong những sách đó đều có thể tìm thấy những điều cần thiết về NLTT. Chẳng hạn, tìm giờ tốt khi đã định ngày. Theo sách của Phan Kế Bính tiến hành theo nguyên tắc bằng bốn câu thơ cổ liên quan đến các Chi ngày, giờ như sau:
         
 Dần - Thân  gia Tý, Mão - Dậu  Dần,
Thìn - Tuất  tầm Thìn, Tý - Ngọ Thân.
Tị-Hợi  thiên cương tầm Ngọ Vị (Mùi),
Sửu - Mùi  tòng tuất, định kỳ chân.

Nghĩa là nếu chọn ngày Dần, ngày Thân thì khởi tính từ giờ Tý(Tý, Sửu.)
       Nếu chọn ngày Mão, ngày Dậu  thì khởi tính từ giờ Dần(Dần, Mão...)
Nếu chọn ngày Thìn, ngày Tuất thì khởi tính từ giờ Thìn(Thìn, Tị…)
       Nếu chọn ngày Tý, ngày Ngọ thì khởi tính từ giờ Thân (Thân, dậu...)
       Nếu chọn ngày Tị, ngày Hợi thì khởi tính từ giờ Ngọ (Ngọ, Vị = tức Mùi...).
       Nếu chọn ngày Sửu, ngày Mùi thì khởi tính từ giờ Tuất(Tuất, Hợi...)
Tiếp theo đó, ráp vào câu: Đạo Viễn Kỷ Thời Thông Đạt, Lộ Giao Hà Nhật Hoàn Trình.
Chú ý các Chi giờ nào trùng vào các chữ : Đạo Viễn Thông Đạt Giao Hoàn(chữ thứ 1, 2, 5, 6, 8,11) là đúng vào các giờ tốt. Nghĩa là mỗi ngày có 6 giờ tốt.
Thí dụ: ta muốn chọn ngày tốt của ngày Thân. Theo quy tắc trên, ta sẽ tìm được 6 giờ tốt là: Tý(1) , Sửu(2), Thìn(5), Tị(6), Mùi(8), Tuất(11).
Vì thế, chúng tôi đã nghĩ ra một cách tìm trực tiếp rất đơn giản và dễ nhớ hơn. Đó là cách tìm giờ ngày tốt theo quý tắc "Đan lồng mốt"  các Chi theo Chiều thuận cột dọc(từ cột 3) của 6 Chi hàng ngang như sau:      

Ghi chú: Cách dùng bảng tra giờ tốt từng ngày như trên rất đơn giản. Đầu tiên xem ta định ngày nào tên ngày âm lịch thì xem trong 2 cột dọc bên trái, tiếp đó dóng theo cùng hàng ngang để tìm những giờ tốt trong ngày đó hoặc chon ngày tốt trong tháng tốt mà vận dụng đối với từng việc cho phù hợp và thuận tiện.
Ví dụ: Ngày Dần, ngày Thân thì dùng dãy giờ trong hàng ngang thứ nhất: Tý, Sửu, Thìn, Tị, Mùi, Tuất.
Quy định giờ âm lịch được tính như sau:
Giờ Tý từ sau 11 giờ đêm đến 01 giờ sáng; 12 giờ đêm là chính Tý.
Giờ Sửu từ sau 01 giờ sáng đến 3 giờ sáng;02 giờ sáng là chính Sửu.
Giờ Dần từ sau 3 giờ sáng đến 5 giờ sáng; 04 giờ sáng là chính Dần.
Giờ Mão từ sau 5 giờ sáng đến 7 giờ sáng; 06 giờ sáng là chính Mão.
Giờ Thìn từ sau 7 giờ sang đến 9 giờ; 08 giờ sáng là chính Thìn.
Giờ Tị từ sau 9 giờ đến 11 giờ trưa; 10 giờ sáng là chính Tị.
Giờ Ngọ từ sau 11 giờ trưa đến 01 giờ chiều; 12 giờ trưa là chính Ngọ.
Giờ Mùi từ sau 01 giờ chiều đến 3 giờ chiều;2 giờ chiều là chính Mùi.
Giờ Thân từ sau 03 giờ chiều đến 5 giờ chiều; 4 giờ chiều là chính Thân.
Giờ Dậu từ sau 05 giờ chiều đến 7 giờ tối; 6 giờ chiều là chính Dậu.
Giờ Tuất từ sau 7 giờ tối đến 9 giờ tối; 8 giờ tối là chính Tuất.
Giờ Hợi từ sau 9 giờ tối đến 11 giờ đêm; 10 giờ  đêm là chính Hợi.
rồi quay lại giờ Tý như trên.

Nhìn vào bảng trên, theo các Chi ở cột dọc trong vùng giờ tốt, ngày tốt, ta thấy rằng, các Chi cứ đan xen nhau cách một Chi, hay nói cách khác, là Chi dương đi thuận với Chi dương; Chi âm thuận với Chi âm nối tiếp nhau. Ta chỉ cần nhớ 6 Chi đứng đầu từng cột (Tý Sửu Thìn Tị Mùi Tuất) , sau đó ta sẽ tìm được trực tiếp dễ dàng các ngày giờ tốt cần thiết. Bằng cách này, ta có thể tìm nhanh chóng, chính xác các giờ tốt(theo ngày), các ngày tốt (theo tháng) rất tiện lợi.
Theo quan niệm của các nhà thiên văn thời xưa cho rằng: trong những giờ đó, ngày đó có các sao tốt nằm trong vùng Hoàng đạo. Đó là các chùm sao:1-Thanh Long, 2-Minh Đường, 3-Kim Quỹ, 4-Bảo Quang(Kim Đương), 5-Ngọc Đường, 6-Tư Mệnh.
Theo tâm lý thông thường của dân chúng thì người ta chỉ chú ý nhiều đến ngày tốt, giờ tốt là chủ yếu. Đối với việc chọn tháng tốt thì có một vài quan điểm khác nhau, song nhìn chung thiên về chọn tháng nào mà theo luật"âm dương ngũ hành” không khắc chủ nhân là được. Nếu gặp tháng tương sinh tuổi của chủ nhân thì càng tốt. Chẳng hạn nếu tuổi chủ nhân thuộc hành Mộc thì tránh chọn tháng thuộc hành Kim (vì Kim khắc Mộc thì có hại). Để có thể nhận biết được năm tháng ngày thuộc tính của hành  nào, ta xem bảng tổng kết vắn tắt sau đây:
  Nhờ bảng này, ta có thể biết được mối liên quan giữa tương sinh, tương khắc của ngũ hành :Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Cụ thể vòng tương sinh là: Kim -> Thủy -> Mộc -> Hỏa -> Thổ ->Kim... (rồi quay lai vòng),
 vòng tuơng khắc là: Kim <-> Mộc <-> Thổ <-> Thủy <-> Hỏa <-> Kim...

Từ đây, ta có thể chọn các năm, tháng không gặp xung khắc về ngũ hành.
        Cũng cần lưu ý rằng: các Chi tháng thì luôn cố định. Cứ theo Chiều thuận, tháng giêng là Chi Dần, tháng 2: Mão, tháng 3: Thìn.... tháng 12: Sửu. Nhưng Can của tháng thì thay đổi tùy theo Can năm. Cụ thể là:
Đối với Can năm mà --Giáp và Kỷ thì Can tháng giêng là Bính.
                                  --Ất  và Canh  ----    là Mậu.
                                  --Bính và Tân  ----    là Canh.
                                  --Đinh và Nhâm ----  là Nhâm.
                                  --Mậu và Quý    ----  là Giáp.
Từ đó, ta có thể biết được các Can(tính theo Chiều thuận) từ tháng 1 đến tháng 12 của năm đó khi đã biết Can đầu của chúng đi với Chi Dần để có tên Can Chi của tháng giêng. Khi đã biết chính xác về tên Can Chi của từng tháng, ta sẽ biết được thuộc  hành nào của nó để vận dụng chọn tháng cho thích hợp.
Ngoài ra, người ta chọn tháng theo cách riêng tùy từng việc (không biết xuất phát từ lý giải nào ?) . Thí dụ các tháng tốt cho việc xuất giá là:
Đối với tuổi: 
Tý - Ngọ:      đại lợi ở tháng: 6 và 12;  tiểu lợi ở tháng: 1 và 7.
Sửu - Mùi:  đại lợi vào tháng 5 - 11     tiểu lợi vào tháng 4 -10.
Dần -Thân: đại lợi vào tháng 2 - 8       tiểu lợi  vào tháng 3 -6.
Mão - Dậu:đại lợi vào tháng 1 - 7         tiểu lợi  vào tháng  6 -12.
Thìn - Tuất: đại lợi vào tháng 4 -10      tiểu lợi  vào tháng 5 -11
Tị - Hợi : đại lợi  vào tháng 3 - 9           tiểu lợi  vào tháng 2 -8.
Mặt khác, theo phong tục Việt Nam về chọn NLTT còn chú ý tránh một số ngày kiêng kị linh tinh khác nữa. Như  ngày xung tuổi, ngày sát chủ, ngày đại hao, ngày thiên cương...những ngày này người ta coi là không tốt cho mọi việc tiến hành quan trong của chủ sự.
1.Ngày xung tuổi: chủ yếu là những ngày có Can Chi cách 5 bậc Can Chi tuổi của chủ nhân. Thí dụ: tuổi Mậu Dần thì ngày xung tuổi là ngày Giáp Thân. Vì G cách M  5 Can (K C T N Q) và Thân cách Dần 5 Chi (Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi).
2.Ngày sát chủ: Theo quy tắc tứ hành xung Chiều thuận với từng cặp tháng lẻ, tháng chẵn âm lịch như sau:  Với các tháng lẻ là cặp ngày Tý và Ngọ luân chuyển. Tức là tháng giêng: T-1 ngày Tý , T-3  -ngày Ngọ, T-5 ngày Tý, T-7 ngày Ngọ, T-9  ngày Tý, T-11 ngày Ngọ. Với các tháng chẵn là cặp ngày Mão Dậu. Tức là: T-2 ngày Mão, T-4 ngày Dậu, T-6 ngày Mão, T-8 ngày Dậu, T-10 ngày Mão, T-12 ngày Dậu.
3.Ngày đại hao: tính theo Chiều thuận bắt đầu từ tháng giêng là ngày Ngọ, tháng hai là ngày Mùi... tháng 12 là ngày Tị.
4.Ngày Thiên cương: tính theo Chiều thuận các Chi âm của ngày đối với những tháng lẻ; các Chi dương của ngày đối với các tháng chẵn. Cụ thể  như sau:
Tháng giêng: T1 - ngày Tị,  T3 - ngày Mùi, T5- ngày Dậu, T7- ngày Hợi, T9 -ngày Sửu, T11- ngày Mão. T2 - ngày Tý, T4 -ngày Dần, T6 -ngày Thìn, T8 -ngày Ngọ, T10 - ngày Thân, T12 - ngày Tuất.
 5.Ngày Thọ tử: tính theo Chiều thuận Chi của các ngày và bắt đầu từ ngày Tuất cho hết 6 tháng lẻ đến 6 tháng chẵn. Còn can của ngày thì theo định vị riêng. Cụ thể như sau:
     *Tháng 1 ngày B. Tuất.  *Tháng 2
-ngày N.Thìn.
     *Tháng  3  -ngày  T. Hợi. *Tháng  4     - ngày Đ. Tị.
     *Tháng  5 -ngày - M. Tý. *Tháng    6     - ngày   B. Ngọ.
     *Tháng 7 -ngày - A. Sửu.* Tháng    8 -  ngày Q. Mùi.
     *Tháng 9 -ngày - G.Dần. *Tháng 10     - ngày N. Thân.
     *Tháng 11-ngày -T.Mão. *Tháng 12    -ngày T. Dậu
6.Ngày Nguyệt kỵ: Hàng tháng là những ngày 5, 14, 23. (Dân ta có câu: "mồng năm, mười bốn, hai ba, đi chơi cũng thiệt huống là đi buôn")        
Ngoài ra có một số ngày kiêng kị tùy theo từng việc như: xuất hành đi xa, khai trương, mở hội, cưới hỏi, tế lễ, an táng.v.v...Chẳng hạn:
7.Ngày Kiếp sát (kị xuất hành, giá thú, xây cất,an táng): ngày này được tính theo quy tắc "tứ hành xung nghịch đảo" Đối với các tháng lẻ thì cặp ngày Hợi - Tị; với những tháng chẵn thì cặp ngày Thân - Dần. Cụ thể như sau:
Tháng 1- ngày Hợi,
       Tháng 2 -ngày Thân.
       Tháng 3  - ngày Tị,   
Tháng  4 - ngày Dần.
       Tháng  5 - ngày Hợi,  
        Tháng  6  - ngày Thân.
       Tháng  7  - ngày  Tị,           
        Tháng  8  - ngày Dần.
       Tháng  9  - ngày Hợi,        
        Tháng 10 - ngày Thân.
       Tháng 11 -  ngày Tị,        
        Tháng 12 - ngày  Dần.
8.Ngày Thiên tai địa họa (kị gả cưới, xây cất):
      Tháng 1,5,9 kị ngày Tý; tháng 2,6,10 kị ngày Mão, tháng 3,7,11 kị ngày Ngọ, tháng 4, 8,12 kị ngày Dậu.
9.Ngày Tam nương sát (kị xuất hành, khai trương mở hội): Đó là những ngày 3,7, 13,18, 22, 27.
10.Ngày Trùng tang (kị giá thú, an táng, xây cất): gồm những ngày có can theo Chiều thuận. Bốn tháng cuối mùa đều là can Kỷ và không có ngày can Mậu. Cụ thể là trong 12  Tháng ( T1      T2     T3    T4    T5    T6    T7    T8    T9    T10    T11    T12) , cứ mỗi tháng theo thứ tự như trên thì ứng với một ngày có Can Trùng tang như sau: G.   A.     K.    B.    Đ.   K.     C.     T.   K.   N.    Q.    K.
Nhìn chung, ta thấy rằng: trong dân gian cũng còn nặng nề về chuyện kiêng kị nhiều ngày rắc rối, phức tạp. Khó mà tìm được một ngày cho thật tốt hoàn hảo. Chủ yếu người ta chọn ngày dựa vào trọng tâm từng việc thì còn dễ chịu hơn. Như thế mới tạo được sự yên tâm cho chủ nhân đỡ băn khoăn, lo lắng. Thực ra vấn đề chọn NLTT chưa ai chứng minh, lý giải được cái đúng, cái hay của nó một cách hợp lý cả. Chẳng qua người ta bắt chước nhau làm theo kiểu dân gian thường nói:"xưa  bày, nay làm" để tạo ra một tâm lý yên trí đã thận trọng thực hiện coi ngày giờ thích hợp để cho cả gia đình và bà con an tâm tin tưởng./. ]
                               
Ghi chú: Bài này đã đăng trên tạp chí Đại học Huế,
Số 34-35/1-2002.