Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

                                 Chuyện vui
               CÔ DÀO TẬP PHI NGỰA ĐỂ GIẢM BÉO
                                   ==00==

Ở Hà Nội cũng như nhiều nơi khác có nhiều cô béo phì. Các cô trẻ chưa chồng thì rất lo cho cơ thể mình phát triển tự do ngoài ý muốn làm ảnh hưởng đến chuyện lập gia đình. Do đó, họ đã chịu khó tập luyện, kiêng khem ăn uống hoặc dùng thuốc để giảm cân. Có nàng đã mạnh dạn đến “mỹ viện” giải phẫu cắt bỏ từng phần thịt mỡ dư thừa để cho thân hình gọn nhẹ hơn. Các nàng béo phì cứ đồn nhau tìm cách giảm béo. Cô Đào cũng muốn như vậy, nhưng cô thuộc loại béo đều đặn các bộ phận và mặt mũi lại xinh xắn dễ thương nên cô không ưa đi mỹ viện, cũng không thích dùng thuốc, hoặc tập máy để giảm béo. Cô đào chọn cách tập sinh động và phóng khoáng hơn. Đó là đi tập cưỡi ngựa, phi ngựa để giảm béo.
Thế là cô đến địa điểm dịch vụ tập ngựa để đăng kí làm thủ tục tập luyện. Cô chọn một con ngựa đực còn non và có vẻ hiền lành, dễ bảo để tập. Có người hướng dẫn cho cô tập từng động tác. Cô Đào vui vẻ tập trèo lên, nhảy xuống ngựa nhiều lần cho quen rồi phi ngựa chạy quanh bãi tập. Cô cảm thấy việc tập này rất hứng thú, sinh động. Cô cho rằng kiểu tập ngựa này thật tuyệt vời. Cô hy vọng sẽ giảm béo thân hình rõ rệt.
Sau một tuần tập ngựa theo hợp đồng, cô Đào đến phòng dịch vụ để xác minh kết quả. Cô hồi hộp chờ xem thông báo kết quả trên bảng điện tử.
Sau khi cân đo lại trọng lượng cô và con ngựa thì thấy rằng:trọng lượng của cô không thay đổi gì mấy mà trọng lượng con ngựa thì giảm đi mấy cân.
Thấy thế mọi người ngạc nhiên cười vui lên và nói với nhau:
“Thật là buồn cười! Chắc là con ngựa đực non đó vất vả quá sức, vì phải để cô Đào nhảy lên, tụt xuống, phi đi, phi lại nhiều lần rất vất vả mệt nhọc”.
Còn cô Đào thì cảm thấy rất hứng thú mà không mệt mỏi chút nào. Có lẽ do vậy mà trọng lượng của cô không hao hụt gì cả. Cô vẫn chưa làm giảm được gì cái độ béo của cô ta. Tuy thế, cô Đào vẫn không thấy buồn. Cô nàng đành cười vui tự nhiên theo mọi người rồi chào tạm biệt ra về.

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

               NỤ CƯỜI E ẤP NIỀM VUI  
                             ==00==
Niềm vui mới đến với em,
Nụ cười thầm kín bên thềm mái hiên.
Trong lòng xao xuyến liên miên,
Chắc em rạo rực nỗi niềm yêu thương.
Mấy năm đèn sách học đường,
Giờ đây sắp được ra trường Cử nhân.
Như đang suy nghĩ xa gần,
Nơi nào sẽ được công danh vững bền?...
Con đường sự nghiệp, tình duyên…
Cái đẹp, cái nết gắn liền với em.
Đời em sẽ được vui thêm,
Nhờ sự khiêm tốn, dịu hiền dễ thương.
Tình đời ưu ái sắc hương,
Yên tâm số phận trên đường lập thân.
Chúc em hạng phúc đến gần,
Đời sống ổn định, tinh thần yên vui.
                 ==@==
        Nguyễn Hồng Trân(cựu GV. ĐHKH-Huế)

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

BÀI CA “TIẾN VỀ HÀ NỘI”
VẪN CÒN VANG DỘI TRONG TÔI
==00==
Bài ca” TIẾN VỀ HÀ NỘI” của nhạc sĩ Văn Cao là một trong những bài ca tôi rất thích hát. Khúc nhạc và lời ca sôi nổi với khí thế hào hùng của đoàn quân tiến về Giải phóng Thủ đô vào ngày 10 tháng 10 năm 1954.
Chúng tôi từ thuở ấy, ở lứa tuổi thanh thiếu niên say sưa ca hát nhiệt tình bài này trong các buổi sinh hoạt tập thể cũng như cứ hát ca  một mình khi hứng thú. Bài hát đã lan truyền đi khắp nơi mà nhiều đã thuộc lòng và hát say sưa. Chúng tôi rất thán phục sự tiên đoán tài tình của nhạc sĩ Văn Cao đã tưởng tượng ra cái quang cảnh hùng tráng của đoàn quân ta hiên ngang trở về tiếp quản Thủ đô. Bài “Tiến về Hà Nội” này NS Văn Cao đã sáng tác từ cuối năm 1949. Và không ngờ 5 năm sau đó(1954) đã trở thành sự thật. Bài ca lại được cất lên một cách tưng bừng, sôi nổi, vang dội khắp cả Thủ đô trong ngày 10-10-1954.
“Trùng trùng say trong câu hát,
Lớp lớp đoàn quân tiến về,
Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng
Cờ ngày nào tung bay trên phố.
Trùng trùng quân đi như sóng,
Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời.
Chúng ta đem vinh quang, sức dân tộc trở về
Cả cuộc đời tươi vui về dây…
Năm Cửa Ô đón mừng đoàn quân tiến về
Như đài hoa đón chào nở năm cách đào
Hà Nội bừng tiến quân ca…
….
Sự thực đoàn quân ta chỉ tiến vào tiếp quản Thủ đô theo hai Cửa Ô mà thôi. Đó là vào Ô Chợ Dừa đến tập trung tại sân bay Bạch Mai và vào Ô Quang Chưởng sang Cửa Bắc. Đặc biệt nhất là cuộc diễu hành lực lượng quân đội ta vào sáng ngày 10-10-1954. Đoàn xe cơ giới quân đội dẫn đầu do Chủ tịch Ủy ban tiếp quản Thủ đô -Vương Thừa Vũ (Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308) và Phó chủ tịch: BS. Trần Duy Hưng đứng trên xe mui trần vẫy tay tươi cười chào đón nhân dân Hà Nội ra dọc đường vẫy cờ hoa chào mừng quân ta tiến về giải phóng Thủ đô. Tiếp theo là các đoàn quân của Đại đoàn 308 lần lượt đi qua ngã tư Vọng, đến ngã tư Trung Hiền, rẽ lên đường Bạch Mai, qua Phố Huế, tới Hàng Bài, lên Đinh Tiên Hoàng dọc bờ Hồ Gươm đến Hàng Ngang, sang Hàng Đào,qua chợ Đồng Xuân, lên Hàng Giấy, qua vườn hoa Hàng Đậu rồi đến Cửa Bắc vào Hoàng Thành Hà Nội.
Trong ngày hôm đó nhân dân Hà Nội tưng bừng, rộn ràng với bao niềm vui sướng được đón mừng đoàn quân ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ và trở về tiếp quản Thủ đô. Cả ngày hôm đó cả thành phố sôi động như ngày hội lớn. Cờ hoa rợp đường, ca nhạc vang lừng khắp cả phố phường với những sắc màu và âm thanh nồng thắm!...
Ôi Hà nội thân thương nay đã được hoàn toàn giải phóng khỏi chế độ thực dân Pháp! Quân và dân Hà Nội vô cùng tự hào với niềm tin vào thực tại và tương lai phát triển của đất nước Việt Nam!...
60 năm đã trôi qua, Hà nội giờ đây đã thay da, đổi thịt thắm hồng với vóc dạng lớn lao ngày càng khỏe mạnh và xứng đáng là một Thủ đô của đất nước Việt Nam hòa bình thống nhất.
                                            ***
                      Hà Nội ngày 9 tháng 10 năm 2014
Nguyễn Hồng Trân (cựu GV trường Đại học Khoa học Huế)

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

                           TÔI ĐÃ BIẾT GÌ VỀ KHỔNG TỬ…
                                                      ==00==
           (Nguyễn Hồng Trân (cựu GV Đại học Khoa học –Huế)
Khổng Tử là một nhà hiền triết mà cả thế giới đều ngưỡng mộ và kính trọng. Tại Hà Nội, có tượng thờ Khổng Tử trong Văn Miếu Quốc tử giám. Nhiều nhà thông thái, tài danh khắp nơi đã vinh danh Khổng Tử là”NGƯỜI THẦY TIÊU BIỂU CỦA MUÔN ĐỜI”.
1.Lai lịch và cuộc đời
*Ông tổ ba đời của Khổng Tử vốn gốc người nước Tống (Hà Nam), dời sang nước Lỗ (Sơn Đông). Thân phụ của Khổng Tử tên là Thúc Lương Ngột, làm quan võ, lấy bà vợ trước sinh được 9 người con gái. Bà vợ lẽ sinh được một người con trai có tật ở chân, đặt tên là Mạnh Bì. Khi đã về già(70 tuổi), ông Thúc Lương Ngột mới lấy bà Nhan Thị và sinh ra Khổng Tử, vào mùa đông, tháng 10 năm Canh Tuất, năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà Chu, tức năm 551 trước Công nguyên Tây Lịch. Chuyện kể rằng bà Nhan Thị có lên núi Ni Khâu để cầu tự, vì thế khi sinh ra, Khổng Tử được đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Có sách lại chép rằng Khổng Tử có tên là Khâu vì trán cao và gồ lên như cái gò, vì khâu theo ý nghĩa chữ Trung Hoa là cái gò.
  
Khi Khổng Tử lên 3 tuổi, thân phụ mất. Sách Sử không nói rõ về tuổi trẻ của Khổng Tử mà chỉ ghi rằng phu tử hay cùng các bạn nhỏ tuổi bày đồ cúng tế, một điều tỏ rõ bản tính quý trọng các điều lễ nghĩa. Năm 19 tuổi, Khổng Tử lập gia đình và sau đó nhậm chức Ủy Lại với công việc là cai quản việc đong thóc ở kho, sau lại làm “Tu chức lại” coi việc nuôi bò, dê, để dùng vào việc cúng tế. Vào lúc này, Khổng Phu Tử đã nổi tiếng là một người tài giỏi vì vậy một vị quan nước Lỗ tên là Trọng Tôn Cồ đã cho hai người con theo học là Hà Kỵ và Nam Cung Quát.

Khổng Tử nghiên cứu về Nho Thuật nên rất chú ý đến các lễ nghi và phép tắc của các bậc đế vương đời trước và muốn tìm hiểu các bản văn, tài liệu, hình tượng liên hệ, thời đó đang được lưu trữ tại Lạc Dương là kinh đô của nhà Chu. Năm 28 hay 29 tuổi, Khổng Tử muốn đi Lạc Dương nhưng vì đường xa, lộ phí quá cao nên đã không thể đi được. Lúc bấy giờ người học trò cũ là Nam Cung Quát liền tâu với Lỗ Hầu và nhà vua đã cho Khổng Tử một cỗ xe hai con ngựa và vài người hầu hạ để ra đi.

Thời đó, người phụ trách tòa nhà lưu trữ các văn thư cổ ghi chép các biến cố từ thế kỷ thứ 23 trước Tây Lịch trở về sau là Lão Tử. Các văn kiện của thời đại đó được khắc bằng chữ cổ lên trên ngói, tre hay mu rùa. Lão Tử đã giúp Khổng Tử xử dụng các văn khố, sao chép tài liệu để về sau này dùng làm căn bản cho việc san định sách. Khổng Tử cũng học về “Lễ" với Lão Tử và về “Nhạc" với Trành Hoằng.
Năm Khổng Tử 51 tuổi, vua nước Lỗ mời ông làm quan Trung Đô Tể tức là vị quan quản trị kinh thành rồi thăng lên cấp Đại Tư Khấu (như Bộ Trưởng Tư Pháp ngày nay). Trong 4 năm đảm nhiệm chức vụ này, Khổng Tử đã đặt ra các phép tắc, đề ra việc cứu giúp các người nghèo khó, quy định việc chôn cất người chết... Nhờ luật lệ phân minh, mọi người dân được dạy bảo các điều lễ nghĩa, trai gái theo lễ giáo, kẻ gian phi không có.

Sau đó, vua nước Lỗ lại cất nhắc Khổng Tử lên chức Nhiếp Tướng Sự, được quyền bàn việc nước. Chuyện còn kể rằng khi cầm quyền, Khổng Tử đã cho giết kẻ gian thần là Nhiếp Chính Mão và giúp nước Lỗ trở thành một miền đất thanh bình, thịnh trị.

Vua nước Tề bên cạnh bèn tìm cách hãm hại nước Lỗ bằng cách đưa qua tặng vua Lỗ 80 gái đẹp và 30 ngựa tốt, khiến cho vua Lỗ đam mê. Vì thế Khổng Tử đã từ chức, rồi rời qua nước Vệ cùng một số môn đệ trong đó có Tử Lộ và Nhan Hồi là người học trò được ưa thích. Sau khi ở nước Vệ 10 tháng mà không được vua nước này trọng dụng, Khổng Tử lại đi qua nước Trần và trên đường đi tại đất Khuông, ông bị nhầm lẫn là Dương Hổ, một tên tàn bạo, nên bị quân lính vây hãm. Các môn đệ định xông ra chống cự nhưng Khổng Tử không cho phép và bảo thầy Tử Lộ đem đàn ra gẩy và chính mình hát theo, nhờ đó mới chứng tỏ được sự thực. Rồi trong thời gian ở nước Tống, Khổng Tử suýt bị ám hại bởi quan Tư Mã tên là Hoàn Khôi.

Sở dĩ Khổng Tử đi hết nước này qua nước kia vì chỉ muốn đem cái sở học của mình về trị dân để thuyết phục các bậc vua chúa nhưng vào thời kỳ loạn lạc đó, không bậc vương giả nào chú ý đến các điều lễ nghĩa của Khổng Tử. Có lẽ trong thời gian đi chu du thiên hạ này, trường phái Khổng Học đã được củng cố và số môn đệ theo học cũng gia tăng rất nhiều. Tính ra từ khi rời nước Lỗ, Khổng Tử đã đi qua tất cả 14 nước và trở về quê hương vào tuổi 68, có lẽ vào năm 484 trước Tây Lịch. 
Không có văn bản nào ghi lại các năm cuối đời của Khổng Tử song chắc chắn ông đã dùng quãng thời gian cuối cùng này để dạy học trò, đọc lại tất cả các tài liệu thu thập được trong các chuyến đi và biên soạn các tác phẩm. Những năm cuối cùng cũng là giai đoạn bất hạnh đối với Khổng Tử vì người con trai độc nhất của ông qua đời, rồi tới lượt Nhan Hồi là môn đệ yêu quý. Năm 480, Tử Lộ cũng chết vì trận mạc. Khổng Tử mất vào năm 497, thọ 72 tuổi, mộ chôn tại Khổng Lâm, cách huyện Khúc Phụ thuộc tỉnh Sơn Đông hai dậm. Các môn đệ rất thương tiếc vị Thầy nên họ đã làm nhà bên mộ và để tang trong nhiều năm.

2. Các sách của Khổng Tử.

Khổng Tử được coi là một trong các nhà biên soạn một số sách cổ quan trọng nhất của Trung Hoa. Ông đã xếp đặt lại các văn thơ cổ trong cuốn Kinh Thi (the Book of Odes). Đây là bộ sách chép các bài ca, bài dao từ thời thượng cổ tới đời vua Bình Vương nhà Chu.

Bộ Kinh Thư (the Book of Documents) của Khổng Tử là một bộ sử rất có giá trị, đã ghi chép các lời vua tôi khuyên bảo nhau, từ đời Nghiêu, Thuấn đến đời Đông Chu. Bộ Kinh Dịch (the Book of Changes) là bộ sách lý học, giải thích quan niệm của người Trung Hoa cổ xưa về cách biến hóa của trời đất, trong đó có cả cách bói toán để đoán trước điều lành dữ.

Khổng Tử đã soạn lại sách này nhưng giảng rõ thêm về phần đạo lý khiến cho sau này, Kinh Dịch là một bộ sách trọng yếu của Nho Giáo.

Bộ sách thứ tư của Khổng Tử là Kinh Lễ (the Records of). Đây là bộ sách ghi chép các lễ nghi để duy trì các tình cảm tốt, các phép tắc cư xử trong xã hội. Kinh Nhạc (the Book of Music) là bộ sách thứ năm, đã bị thiệt hại nhiều nhất do việc nhà Tần đốt sách.

Bộ sách quan trọng nhất và do chính Khổng Tử soạn ra là Kinh Xuân Thu (the Spring and Autumn Annals). Khổng Tử đã dùng lối viết sử để chép các chuyện về nước Lỗ, với đầy đủ niên biểu của 12 vị vua từ Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công, bắt đầu từ năm 722 tới năm 479 trước Tây Lịch. Đây là một bộ sách hàm chứa các triết lý về nền chính trị của nước Trung Hoa thời cổ.

Sau khi Khổng Tử đã qua đời, các môn đệ của ông đã biên soạn cuốn Luận Ngữ (the Analects = the Edited Conversations) ghi chép các đàm thoại của Khổng Tử với các vua quan và các môn đệ. Cuốn sách này nhấn mạnh tới nền triết học chính trị (political philosophy) của Khổng Tử.

Khổng Tử đã quan tâm tới sự vô đạo đức và thiếu đạo đức của các chính quyền thời đó và ông đã cố gắng tìm kiếm một vị vua chúa chấp nhận quan điểm của ông là phải dùng các tiêu chuẩn đạo đức làm nguyên tắc trong việc cai trị dân chúng.

Khổng Tử cho rằng việc chính trị trở nên tốt hay xấu là do nhà cai trị và người này phải mang lại hạnh phúc và an lạc cho người dân, muốn thế, bậc vua chuá phải làm gương tốt để ảnh hưởng đến hành động của những người khác.

Khổng Tử bác bỏ cách dùng luật pháp nghiêm ngặt và tin rằng dùng các tập quán về luân lý và sự hợp lẽ (compliance) là cách hay nhất để duy trì trật tự trong xã hội.

Tôn chỉ này của Khổng Tử được nói ra ở Kinh Xuân Thu với các ý nghĩa “chính danh và định phận", và một nước được thịnh trị vì nơi đó “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”. Khi danh phận đã được định rõ thì mọi người đều có địa vị chính đáng của mình, trên ra trên, dưới ra dưới, tất cả đều có trật tự phân minh.

Đây là chủ thuyết “Chính Danh” của Khổng Tử (the Rectification of Names). Khổng Tử coi những năm đầu của nhà Chu là có hình thức chính quyền tốt đẹp nhất.

Khổng Tử tự coi mình chỉ là người truyền lại các ý tưởng của Cổ Nhân đã có từ trước, tuy nhiên ông đã là nhà tư tưởng Trung Hoa đầu tiên đề cập tới các quan niệm căn bản không những của nền Khổng Học mà của nền Triết Học Trung Hoa. Năm điều căn bản này là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Khổng Tử tin rằng người “quân tử” không nhất thiết phải là một nhà quý tộc và người đó phải làm gương tốt về đạo đức cho các người khác noi theo.

Khổng Phu Tử quả là một nhà Nhân Bản, một trong các bậc Thầy vĩ đại của lịch sử Trung Hoa. Ảnh hưởng của ông đối với các môn đệ đương thời rất sâu rộng và những người này đã cắt nghĩa lý thuyết của Khổng Tử khiến cho tới đời nhà Tiền Hán (từ năm 206 trước Tây Lịch tới năm 8 sau TL), lý thuyết Khổng Giáo đã trở nên ý thức hệ của triều đại đó.

Quan niệm về bản tính Thiện của con người cùng sự quan trọng của đức tính Nhân và lòng Nhân Đạo trong chính trị và trong đời sống hàng ngày đã được sau này Mạnh Tử (Mencius) khai triển và được Tuân Tử đưa vào thực tế.

Do các điều giảng dạy đạo làm người rất thực tế và đầy lòng nhân ái. Đạo Khổng vẫn tiếp tục được coi là một triết lý sống rất mạnh và phổ thông tại Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.
Tại Văn Miếu Quốc tử giám ở Hà Nội đã có tượng thờ đức Khổng Tử cũng vì lý do là một nền giáo dục phải lấy đạo đức làm trọng mới tồn tại lâu dài và có ý nghĩa lớn trong xã hội.

 3.Một số danh ngôn của Khổng Tử
1.Học nhi thời tập chi, bất diệc thuyết hồ!
(Học đi với hành, không chỉ nói cho qua chuyện)
2. Đạo thiên thừa chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân, sử dân dĩ thời.
( Trong việc trị quốc, phải thận trọng không hứa ẩu, biết đãi người hiền, phải được lòng dân).
3. Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã. 
(Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, vậy mới thật là biết)
4. Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. 
(Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc)
5. Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn, thị vị chi “văn ”dã. 
(Thông minh và hiếu học thì không thẹn hỏi kẻ dưới mình, Vậy mới thật gọi là có trình độ).
6. Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ. 
 (Nghĩ việc xưa để hiểu việc nay,là điều đáng làm thầy người khác).
7.Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. 
(Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc).
8. Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn, thị vị chi “văn ”dã. 
(Thông minh và hiếu học thì không thẹn hỏi kẻ dưới mình, Vậy mới thật gọi là có học).
9. Dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi. 
(Có thể làm cho dân theo con đường của ta, không thể làm cho họ biết hết gì).
10.Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính . 
(Không ở vị trí thích hợp, không nên toan tính chuyện).
11. Hậu sinh khả uý, yên tri lai giả chi bất như kim dã.  
( Lớp sau sẽ giỏi, biết đâu sau này không như ngày nay).
12. Tri giả bất hoặc; nhân giả bất ưu; dũng giả bất cụ.
(Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi).
13. Khắc kỷ phúc lễ, vi nhân .
(Cạnh tranh bất chính cho mình là lòng ích kỷ).
14. Kỷ sở bất dục, vật thi vu (ư) nhân .
(Điều mình không thích thì đừng làm cho người khác).
15. Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành; kỳ thân bất chính, tuy lệnh nhi bất tùng.
(Bản thân làm điều phải, không ra lệnh người ta cũng nghe; không đúng thì có ra lệnh người ta cũng không nghe).
16. Vô dục tốc; vô kiến tiểu lơi. Dục tốc tắc bất đạt; kiến tiểu lợi tắc đại sự bất thành .
(Không làm nhanh, không ham lợi nhỏ. Làm nhanh dễ hư chuyện; thấy lợi nhỏ mà ham thì không thể làm nên chuyện lớn).
17. Hà dĩ báo đức chính dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức .
(Hãy lấy lẽ phải để đáp trả lại sự oán thù, dùng nhân đức để đáp lại người hiền).
18. Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu.
(Người không biết nhận thức sâu xa, ắt có ngày sẽ gặp phiền phức-âu lo).
19. Xảo ngôn loạn đức. Tiểu bất nhẫn , tắc loạn đại mưu.
(Lời giả dối làm rồi loạn tâm thiện. Không nhịn được điều nhỏ nhặt, sẽ làm hư chuyện đại sự).
20. Quá nhi bất cải, thị vị quá hĩ!
(Biết lỗi mà không sửa, đó chính là lỗi!)
21. Tính tương cận dã, tập tương viễn dã.
(Tương đương câu tục ngữ “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”).
22. Sắc lệ nhi nội nhẫm, thí chư tiểu nhân.
(Những kẻ ngoài mặt oai lệ mà trong lòng nhu nhược, thì ta coi là hạng tiểu nhân).
23. Đức bất cô, tất hữu lân .
(Người có đức khôngcô đơn, tất có bạn gần)
24. Tri chi giả bất như hiếu chi giả, hiếu chi giả bất như lạc chi giả.
(Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học. (Gs. Minh Chi dịch).
25. Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính
(Không ở vị trí thích hợp, không nên toan tính chuyện).
                                                                    =NHT=




Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

BÀI HỌC CUỘC ĐỜI
                                ==00==
Trong thiên hạ có người sống thọ, có người sống yểu khác nhau. Có người may mắn sống thọ lâu năm với con cháu đông đúc vui vẻ; có người xui xẻo lìa đời quá sớm để lại bao nỗi đau thương cho gia đình, bà con. Còn lại thì đa số người dã từ trần về cõi âm ở những lứa tuổi già lão bình thường. Nói chung, ai rồi trước sau cũng trở về với cát bụi mà thôi. Đó là quy luật tạo hóa cuộc đời” SINH-LÃO -BỆNH- TỬ.
Có thể nói cuộc đời con người trên trần gian này không lâu. Do đó phải sống làm sao cho có đức, có tâm, có tinh thần “mình vì mọi người thì mọi người mới vì mình” mà chịu khó rèn luyện bản thân có đạo lý và trí tuệ. Không ai có thể đứng ra dạy đời được cả. Vì có ai dám nói: “cuộc đời tôi đã trải nghiệm hoàn hảo!...”.
Vì thế nên mỗi người tự mình tìm hiểu thực tế trong cuộc sống để rút ra những bài học cho cuộc đời mình có ý nghĩa. Đó là phải biết học hỏi cái hay, cái tốt trong thiên hạ. Nên nghĩ rằng, trong xã hội có nhiều người tài giỏi hơn mình.Đồng thời luôn có ý thức, thái độ khiêm tốn, hòa nhã, biết kính trên, nhường dưới. Làm người phải biết tự trọng, không tự cao, tự mãn cho rằng mình luôn luôn hơn người khác mà sinh ra thái độ đối xử ngạo mạn, trịch thượng thì người ta sẽ không có lòng tin, không quý trọng, không nể phục đâu!...
Người có đức, có tài là biết làm cho người khác phải tâm phục, khẩu phục mà không phải dùng đến lời lẽ nặng nề, dọa nạt khi phê phán người khác. Có như thế mới đem lại kết quả được niềm tin của nhiều người. Dân gian ta có câu: “Mật ngọt chết ruồi, mắm mạn không chết troi bao giờ”. Nghĩa là phải biết dùng những lời lẽ ôn tồn để phê bình, góp ý thì có sức thuyết phục mạnh hơn.Nghĩa là phải biết xử sự một cách tế nhị. Điều này không phải ai cũng làm được. Có những người có học và có địa vị cao, học vị cao cũng còn nhiều khiếm khuyết trong vấn đề này.
Cái giá trị nhân bản của con người là ở chỗ đó, chứ không phải ở chỗ có nhiều tiền, có địa vị, học vị cao mà người ta quý trọng và kính nể. Thực tế trong cuộc sống thường ngày đã chứng tỏ điều này.
Thế nhưng hiện nay, trong xã hội mới hiện đại có những thứ đã làm lu mờ ý nghĩa nhân văn đó. Vì thế, nên một số người thiếu tâm đức lại có cơ hội phát triển tính tự cao, thiếu khiêm tốn, bất nhã, coi thường người khác. Những kẻ đó cứ hay cho mình là hơn người, cái gì mình nghĩ, mình nói đều đúng mà không tôn trọng ý kiến của người khác. Thậm chí có người còn tỏ thái độ tinh tướng, hống hếch đe dọa người khác không tiếc lời. Cứ tưởng rằng như thế người ta sẽ sợ mình, sẽ chiều theo ý mình. Thế là nhầm rồi!
Đừng có ảo tưởng như vậy! Cái gì nó cũng có giá phải trả cả đấy các ngươi ạ!... Không cần ai dạy đời ai cả, mà chỉ cần chú ý rút kinh nghiệm mà sống trên đời cho phải đạo lý mà thôi. Phải biết đối nhân xử thế cho phù hợp với tình người, nhất là đối với những người có chức, có quyền, có danh vị, học vị lại càng chú ý tu thân tích đức, hướng thiện nhiều hơn.
Bài học cuộc đời là như thế!

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014


      DÒNG SÔNG DĨ VÃNG

Dòng sông dĩ vãng cứ trôi dài
Kỷ niệm buồn vui cứ vãng lai
Sáu khắc ngày sang còn hiện rõ
Năm canh đêm đến cứ phơi bày
Trong xanh làn nước êm đềm chảy
Trắng đục mây trời lãng đãng bay
Nỗi nhớ triền miên lòng bịn rịn
Người xưa ẩn hiện cuốn hồn say!...
                ===000===   
                    Nguyễn Hồng Trân

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2014

 CHUYỆN TUẦN LỄ VÀNG NĂM XƯA THÁNG 9 NĂM 1945
                                         ==00==
                            Nguyễn Hồng Trân
Trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh giử cho đồng bào cả nước vào ngày 17-9, Người đã nêu rõ ý nghĩa to lớn của việc tổ chức Tuần lễ Vàng và kêu gọi mọi người tích cực tham gia. Bức thư có đoạn: “ Tổ chức “Tuần lễ Vàng” không những có ý nghĩa giúp vào nền tài chính quốc phòng, nó còn có một ý nghĩa chính trị quan trọng. Vì vậy tôi mong rằng toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có, hết sức vì nước hy sinh. Tôi tin rằng, toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có, trong sự quyên giúp này, sẽ xứng đáng với sức hy sinh phấn đấu của các chiến sĩ ái quốc trên các mặt trận”.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lòng nồng nàn yêu nước, nhân dân ta ở khắp nơi đã tích cực hưởng ứng “Tuần lễ vàng” (17 đến 24 tháng 9 năm 1945) và sẵn sàng đóng góp tiền của, vàng, bạc cho Chính phủ lâm thời Việt Nam đang gặp khó khăn về tài chính.
Vào những ngày mùa thu đất nước mới độc lập, không khí hưởng ứng cuộc phát động “Tuần lễ vàng” ở Hà Nội dấy lên rất sôi nổi. Các gia đình khá giả, các quan lại chế độ cũ, nhiều người cũng giác ngộ theo lời kêu gọi của cụ Hồ đã thành tâm, nhiệt tình đem tiền, vàng đến ủng  cho Chính phủ. Trên đường phố Hà Nội những ngày ấy đồng bào đi đóng góp tiền của cho Nhà nước đông như ngày hội. Có cụ già 80 tuổi đã đem ủng hộ cho Chính phủ 17 lạng vàng.
Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã ủng hộ cho Chính phủ được mấy chục triệu đồng và mấy tạ vàng. Sự hưởng ứng nhiệt liệt và tự nguyện ấy của nhân dân đã góp phần đáng kể về giải quyết những khó khǎn về tài chính của đất nước lúc bấy giờ. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính, trong Tuần Lễ vàng đã quyên góp được 40 triệu đồng và 370kg vàng nộp vào Quỹ Quốc phòng và trích ra 20 triệu đồng dành cho Quỹ Độc lập.
Cả tuần lễ đó ở các thành phố lớn trong cả nước như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn,Cần thơ, Biên Hòa v.v… đều được tổ chức trang trọng “Tuần lễ vàng” và thu được kết quả. Tuy số tiền và vàng của dân ủng hộ không nhiều lắm, nhưng vào thời đó là vô cùng quý giá về cả vất chất và tinh thần.  Nó thể hiện tình cảm yêu nước của đồng bào ta từ Bắc chí Nam rất nồng nàn, tình nghĩa với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời rất khó khăn về công quỹ.

NHỚ LẠI TUẦN LỄ VÀNG NĂM XƯA
             SAU NGÀY ĐỘC LẬP  

Mười bảy, tháng chín, bốn lăm, (17-9-1945)
Tuần lễ Nhà nước quyên vàng toàn dân.
Mọi người hăng hái tinh thần,
Ủng hộ Chính phủ đỡ phần khó khăn.
Việt Nam độc lập mới thành,
Ngân quỹ thiếu thốn, thanh danh thế nào?
Bác Hồ kêu gọi đồng bào,
Hảo tâm đóng góp nâng cao tấm lòng.
Phụng sự Tổ quốc non sông,
Độc lập dân chủ thành công vững bền.
                        ==00==
                 Nguyễn Hồng Trân


Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

                NHỚ CÁC MÓN CHÈ HUẾ NĂM XƯA
                                  ==00==
Từ nhỏ đến bây giờ, tôi rất thích ăn chè. Tôi cũng đã từng đi đó đây trong đất nước Việt Nam ta và thưởng thức các món chè ở nhiều nơi như ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Sài gòn, Cần Thơ… Nơi nào cũng có các món chè, nhưng theo tôi và nhiều người đã nói thì không có nơi nào mà các món chè phong phú và thơm ngon như chè ở Huế. Có thể kể ra các món chè đó như: chè hạt sen, chè đậu ván, chè xanh đánh, chè trôi nước, chè kê, chè môn, chè khoai tía, chè khoai từ, chè bình tinh, chè đậu đen, đậu đỏ, chè đậu phụng(lạc), chè bắp non(ngô non), chè thập cẩm… Đặc biệt ngày xưa có chè thịt quay nữa. Mỗi loại chè đều có một vị riêng rất thơm ngon.
Tôi và ba tôi ngày xưa ở Huế thường ăn chè mỗi tuần vài ba lần. Ba tôi kéo tôi đi theo ra hàng chè ở chợ Đông Ba, hoặc các quá chè trong thành nội để ăn, cũng có khi gọi các cô, các bà bán chè rong ban ngày và cả ban đêm vào nhà để ăn.Hình ảnh các cô, các bà bán chè mặc áo dài gánh chè đi rao dọc đường phố đã in đậm trong mắt tôi từ thuở còn thiếu niên.
Ba tôi ăn nhiều lắm, nhất là loại chè đậu ván và chè kê là ba tôi thích nhất. Ông ăn mỗi lần gần cả chục bát chè. Còn tôi thì thích ăn chè xanh đánh và chề khoai tía, mẹ và các em tôi thì thích ăn chè bắp non và chè thập cẩm.
Sau ngày hòa bình thống nhất đất nước, tôi từ Hà Nội trở về dạy học ở trường Tổng hợp Huế và cả gia đình tôi cũng về định cư tại vùng Bến Ngự, Phủ Cam. Từ đó, tôi lại được thưởng thức lại mấy món chè Huế mà ngày xưa tôi rất thích. Nhưng không phải quán chè nào cũng có chè nấu thơm ngon đậm đà hương vị như ngày xưa. Vì một số quán chè đã dùng đường hóa học nấu chè bán cho có lời nhiều hơn, nên chè không ngon như nấu đường mía thật của thời xưa.
Nói chung, các món chè Huế sau này không còn phong phú và thơm ngon, đậm đà hương vị như chè ngày xưa nữa. Có một số chè bây giờ không còn nữa như chè thịt quay, hoặc ít nấu bán như chè kê, chè môn, chè bình tinh.
Thật là tiếc! không biết khi nào tôi mới được thưởng thức lại các món chè ấy? Chắc là các món chè đó đã theo về với tổ tiên người tạo ra món chè ấy rồi!...
                                ***
(Nguyễn Hồng Trân-cựu GV Đại học Khoa học Huế)

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

       TUỔI GIÀ AI CŨNG THẾ THÔI!
Tuổi già ai cũng thế thôi,
Mắt mờ, tai điếc, răng thời lung lay.
Tháng ngày nhức mỏi chân tay,
Đêm nằm trăn trở, sáng ngày ngẩn ngơ.
Đi đứng lững chững, vật vờ,
Buồn vui đột ngột, mập mờ hay quên.
Đầu óc cứ nghĩ liên miên:
Tình nghĩa con cháu thảo hiền đến đâu?
Thôi đừng nghĩ ngợi thêm sầu,
SINH-LÃO-BỆNH TỬ là câu luật trời.
Yên tâm thanh thản cuộc đời,
Khi Tổ tiên gọi kịp thời ra đi.
Không còn ân hận điều chi,
Nghĩa tình trọn vẹn không gì băn khoăn...
                   ==00==
        Nguyễn Hồng Trân(cựu GV Đại học TH- Huế)

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

SỨC MẠNH CHÍNH NGHĨA
CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VIỆT NAM 2-9-1945
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc meeting lớn trước hàng chục vạn đồng bào Việt Nam tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn độc lập ấy đã trải qua 69 năm trời mà vẫn còn còn vang dội nồng nàn sức mạnh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Ngay vào những lời đầu tiên của bản Tuyên ngôn đã thể hiện một sự khẳng định chân lý nhân quyền trong một đất nước là gì và nó thiêng liêng như thế nào:
 Hỡi đồng bào cả nước!
Tất cả mọi người đều sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Nói đến đây, Hồ chủ tịch nhìn xuống cả biển người đang chú ý lắng nghe và hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”
Mọi người vui sướng đồng thanh cất tiếng vang lên: “Rõ rồi ạ!”
Người lại tiếp tục nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của chân lý đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liên hệ sắc bén với những bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của các nước Mỹ và Pháp để làm tăng thêm giá trị của bản tuyên ngôn. Người đọc dõng dạc từng chữ, từng câu:

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
       
Tiếp đó là Người đã mạnh dạn vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp đã dùng lời lẽ mỹ miều mị dân để tuyên truyền chính sách công bằng bác ái đối với dân thuộc địa nhằm lừa bịp dân chúng Việt Nam. Chúng tưởng rằng chúng có thể che lấp được những âm mưu thâm độc và tội ác của chúng đối với nhân dân Việt Nam ta trong  một chuỗi năm trường nô lệ. Nhưng nhân dân Việt Nam đã thấy rõ chân tướng của chúng là muốn làm cho ngu dân, không cho dân chúng được hưởng quyền tự do dân chủ trong cuộc sống. Do đó Người không ngần ngại vạch trần bộ mặt thật của chúng:

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”.
        Bản tuyên ngôn độc lập của Người cũng đã dẫn chứng ra cho cả thế giới biết về chính sách cai trị của thực dân Pháp thật là thâm độc,dã man:

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”.

Không những về mặt chính trị- xã hội mà về kinh tế, văn hoá đều bị chúng khống chế và thao túng theo ý đồ của chúng. Đó là:

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảngnhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.

Mặt khác, bản tuyên ngôn cũng đã nêu lên được cái thực trạng thảm hại của đất nước Việt Nam trong giai đoạn biến cố Nhật Pháp để dân ta và cả thế giới hiểu rõ cái thái độ của Chính phủ Pháp:

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên BáiCao Bằng”.

Mặc dù thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam như vậy, nhưng dân ta vẫn có thái độ xử sự với người Pháp một cách nhân đạo. Bản tuyên ngôn cũng đã dẫn chứng lên điều đó:

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ”

Bản tuyên ngôn đã khẳng định lại rõ ràng vấn đề tình hình Việt Nam trong giai đoạn cuối để đi đến tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thực hiện nền độc lập dân tộc:

        Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ cộng hoà”.

Cùng với những vấn đề nóng hổi cần thiết đã nêu trên, bản tuyên ngôn độc lập đã tuyên bố cho đồng bào cả nước và thế giới biết về vai trò và nhiệm vụ của Chính phủ lâm thời trước vận mệnh của đất nước mới hình thành và cũng nói rõ thái độ của Chính phủ mới trước mọi tình thế xẩy ra:

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”.

Cuối cùng của bản tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quan điểm và trọng trách của Chính Phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước quốc dân đồng bào cả nước và thế giới:
 
 Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị TêhêrăngCựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Có thể nói rằng, Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã nói lên ý chí, nguyện vọng của một dân tộc sau 80 nô lệ đau khổ dưới ách thực dân Pháp đã vùng lên giành lấy độc lập tự do cho dân tộc. Một nền độc lập chính đáng. Đây là một bản tuyên ngôn đầy sức mạnh chính nghĩa và có một sức thuyết phục lớn lao đối với mọi người trong và ngoài nước suốt 69 năm qua. ] 
                                         ==00==