Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

        CHIẾC ÁO DÀI NỮ VIỆT NAM THẬT TUYỆT VỜI!
                                               ********  
                                                    Nguyễn Hồng Trân
Chiếc áo dài xuất hiện ở Việt Nam từ ngày xưa lần đầu tiên vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, tức chúa Vũ Vương(1738 - 1765). Thời đó có quy định về kiểu cách chiếc áo dài nam và áo dài nữ. Áo dài nam thì đơn giản ta không bàn đến. Chỉ có áo dài nữ thì càng ngày càng phong phú về kiểu cách, màu sắc, hoa văn… đã gây ấn tượng quý mến, yêu thích cho mọi người dân Việt. hình dáng chiếc áo dài nữ đầu tiên đã ra đời do một họa sĩ có danh hiệu Cát Tường lấy cảm hứng từ mẫu chiếc áo dài tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau mà thôi.Vì thế nên đến thời Pháp thuộc người ta thường gọi là áo dài nữ là áo lơ-mue (Le mur-là bức tường- ẩn ý tên ông Tường).
  Mỗi chiếc áo dài Việt Nam có một màu riêng, như xanh, đỏ, tìm, vàng, nâu, trắng v.v… Qua nhiều thời kỳ, phụ nữ Việt sử dụng chiếc ào dài đã được cải tiến dần dần nên đẹp hơn trước và thuận lợi hơn áo dài ngày xưa. Dáng dấp chiếc áo dài thì vẫn thế, nhưng có một số chi tiết thay đổi cho phù hợp với dáng người mặc như cổ áo mở rộng không bo, vạt áo thêu thùa cành hoa, chim thú… (do bà Trần Lệ Xuân nghĩ ra năm 1957); áo dài cúc bấm, áo dài cúc khuy vải; áo dài tay bó hoặc tay loe; áo dài thêu chim, thêu hoa, đính kim tuyến, áo dài tà,  áo ngắn tà, áo dài tay, không tay, v.v… Có thể nói rằng, ngày nay áo dài phụ nữ Việt Nam rất đa dạng kiểu cách, hoa văn và đẹp hơn nhiều so với ngày xưa. Chiếc áo dài nữ Việt Nam không những chỉ phụ nữ Việt ưa thích mà cả những phụ nữ nước ngoài cũng ưa thích.
Người phụ nữ Việt Nam khi mặc áo dài trông rất duyên dáng, thanh lịch. Ngày xưa, ở thành phố cũng như nông thôn thì đi chợ, đi chùa, đi nhà thờ, đi dự việc họ, việc làng… phụ nữ đều mặc áo dài đàng hoàng, nhìn rất dịu dàng, lịch sự.
Tại cố đô Huế, phụ nữ thường thích mặc áo dài màu tím. Các du khách đến thành phố Huế khi nhìn thấy trên cầu Trường Tiền, trên các đường phố từng tốp học sinh, sinh viên mặc áo dài thướt tha đi nhẹ nhàng ung dung trông rất dễ thương, trìu mến.
Ngày xưa, gia đình tôi ở kinh thành Huế, mỗi lần tôi đi ngang trường nữ Đồng Khánh, lúc tan trường là gặp từng đoàn nữ sinh mặc áo dài xanh, tím, trắng thướt tha đi trên đường phố, trông thật đẹp đẽ, dịu dàng  dễ thương quá!...  Bây giờ mỗi lần cứ hình dung lại những ngày niên thiếu ở Huế là trước mắt tôi lại hiện lên những hình ảnh các cô gái dịu hiền, xinh tươi đang ung dung trên đường phố dọc bờ sông Hương và cầu Trường Tiền như một bức tranh thanh bình mơ mộng….
Ôi, áo dài phụ nữ Việt Nam đã ghi sâu bao niềm nhớ nhung lưu luyến của bao thế hệ học trò và thầy cô cũng như bao người dân Việt!...
                                           Hà Nội tháng 1, năm 2015
                                                          NHT

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015


        GIẾNG NƯỚC LÀNG QUÊ
                       ==@@==

Giếng làng chứa đựng nước trong
Thả gầu xuống giếng mà lòng bâng khuâng
Mặt nước xáo động ánh trăng
Không còn nguyên bóng chị Hằng soi đêm
Nhẹ nhàng múc nước kéo lên
Để bóng trăng hiện tròn nguyên dáng hình
Quê hương giếng nước ân tình
Bạn bè trai gái cúi mình xuống soi
Ban ngày giếng ngắm mặt trời
Đêm về thấy bóng bao người thân quen
Mạch ngầm dòng nước tuôn lên
Tạo nguồn sinh động đẹp thêm cho đời!....
                       Nguyễn Hồng Trân

Thời tôi còn dạy học ở Hà Nội, có một số bạn bè của tôi quê ở Ninh Bình (bên dòng sông Đáy) như bạn Tĩnh, bạn Uông, bạn Quân, bạn Hải…, có lần rủ tôi về chơi ở vùng quê Ninh Bình làm tôi rất vui thích. Vì đã lâu lắm rồi tôi chưa được về quê hương tôi ở bên phía Nam dòng sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Do đó, nên khi về thăm những vùng quê này, tôi đã hình dung lại vùng quê tôi nơi xa xôi bên kia giới tuyến mà lòng nhớ nhung khôn xiết vì đã hơn 10 năm rồi chưa được về lại thăm chốn quê nhà, nơi ấy đang còn mẹ già và các em tôi mong đợi…
Bạn Hải dẫn tôi đi thăm chơi đó đây, đến núi Non Nước thị xã Ninh Bình; đến đình làng Phúc Lộc… Lúc đi ngang qua giếng làng Phúc Lộc, tôi dừng lại ngắm nhìn quang cảnh giếng nước buổi sáng mùa hè với râm ran tiếng ve kêu xen lẫn với tiếng cười nói khúc khích của các cô gái, chàng trai đến múc nước rộn ràng bên giếng nước.
Ôi! Thật là ấn tượng đậm đà nơi miền quê ta đất Việt! Điều đó làm tôi nhớ lại cảnh mấy cái giếng  làng tôi như giếng Đá Đen, giếng Ông Dưng, giếng Bà Vãn… ở thôn Phú Long quê tôi ngày xưa cũng có cái cảnh như thế, nhưng trong chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ xâm lược đã làm tan nát quê hương tôi và những cái giếng nước ngày xưa ấy bây giờ cũng không còn như nữa. Tôi liên tưởng như vậy rồi xúc động lòng mình cảm tác ra mấy câu thơ:

Giếng nước quê xưa đâu rồi?
Lòng ta lưu luyến bồi hồi nhớ nhung…
Bây giờ xa cách nghìn trùng
Khi nào về được thăm vùng quê hương?
Ra đi biết mấy dặm đường
Lòng ta mãi mãi nhớ thương quê nhà.
                      =@@=
                      Nguyễn Hồng Trân

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015


        HÀ NỘI ĐÓN XUÂN VỀ
                    ==@@==
Xuân về Hà Nội rực hoa tươi
Đường phố đông vui rộn tiếng cười
Bách Thảo chim về kêu ríu rít
Tây Hồ thuyền đến lướt đua bơi
Hồ Gươm in bóng người du ngoạn
Trấn Quốc soi mình khách dạo chơi
Cuộc sống thanh bình thêm hạnh phúc
Thủ đô yêu dấu thắm tình đời…
                      *****
            Hà Nội 1-1-2015
             Nguyễn Hồng Trân

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014


             HÀ NỘI MỪNG LỄ NÔEL
                          *****
Hà nội mừng lễ Nôel,
Lung linh đường phố ánh đèn sáng trưng.
Không khí rộn rịp tưng bừng,
Già trẻ trai gái đón mừng Giáng sinh.
Nhà thờ vang tiếng cầu kinh,
Bà con công giáo nhiệt tình hân hoan.
Ước mong phúc ấm vẹn toàn,
Cả lương lẫn giáo kết đoàn ấm êm.
Cho tình dân tộc mạnh thêm,
Quê hương đất nước vững bền niềm tin.
                   Hà Nội, 24/12/2014
                           Nguyễn Hồng Trân


Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

                PHÙNG QUÁN-ANH LÍNH CỤ HỒ
                            VÀ BÀI THƠ HAY
                                  ==00==
                                       Nguyễn Hồng Trân
Nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944—22/12/2014), tôi viết bài này để nhớ lại một người lính cụ Hồ năm xưa mà tôi đã từng quen biết. Đó là nhà thơ Phùng Quán.
Những anh lính cụ Hồ, có nhiều người làm văn thơ rất hay, rất giàu tình cảm và rung động tâm hồn, vì họ đã trải nghiệm thực tế cuộc đời thăng trầm trong quân ngũ sau bao năm gian lao trên chiến trường để chống quân giặc xâm lược. Sau ngày hòa bình năm 1954, nhiều anh bộ đội đã chuyển ngành sang các lĩnh vực khác nhau để tiếp tục phục vụ Tổ quốc và dân tộc. Dù họ ở ngành nào thì mạch nước ngầm của tâm hồn văn nghệ của họ vẫn không ngừng tuôn trào trong cuộc sống thực tại. Và thơ của họ có những bài đã thấm sâu vào tim gan người đọc và cứ tồn tại mãi theo thời gian một cách bền vững như những dòng sông, dãy núi trên đất mẹ Việt Nam anh hùng. Một trong những bài thơ có ý nghĩa triết lý sâu sắc như thế là bài thơ “LỜI MẸ DẶN” của Phùng Quán.
Bài thơ này rất hay và đã được nhiều nhà văn, nhà thơ đã bình luận kỹ càng trên các trang báo chí trong mấy chục năm qua. Tôi rất thích bài này và đã học thuộc lòng từ khi tôi ra học ở Hà Nội từ năm 1957. Hồi ấy, tôi được quen biết anh Phùng Quán ở câu lạc bộ Thống nhất (sát bờ hồ Hoàn Kiếm).
Sau đây tôi xin đưa lên bài thơ đó để các bạn xem và tự mình suy nghĩ rồi chia sẻ nỗi niềm cùng tác giả.

         LỜI MẸ DẶN
Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc:
- Con ơi! trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.
- Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Từ đấy người lớn hỏi tôi:
- Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
         - Bé yêu những người chân thật...
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vờị
In lên vết son đỏ chóị
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
                                Phùng Quán (st 1957)

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

LẦN ĐẦU TIÊN CHÚNG TÔI RA ĐẢO PHÚ QUỐC
                                 ==00==
                                       Nguyễn Hồng Trân
Vào đầu tuần tháng 12 vừa rồi, chúng tôi có dịp đi thăm bà con ruột thịt ở Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh, nên cũng tranh thủ ra đảo Phú Quốc tham quan du lịch một chuyến cho biết vùng đảo này.
Chúng tôi bay chuyến bay từ tp.HCM ra đảo Phú Quốc chỉ trong 35 phút. Hôm ấy thời tiết tốt. Người ngồi trên máy bay đang bay yên bình như ngồi trong phòng nhà, không có một chút lắc lư, rung động mạnh nào cả.
Khi tàu bay sắp hạ cánh, chúng tôi nhìn xuống hòn đảo thật là đẹp. Núi đồi, sông suối, nhà cửa và đường sá hiện rõ dần giữa biển trời trong xanh mát mẻ. Tàu bay giảm tốc độ rồi hạ cánh nhẹ nhàng xuống sân bay Quốc tế Phú Quốc. Xe của Khách sạn Anh Thi đón chúng tôi về nhận phòng ở. Chúng tôi ở phòng cuối tầng hai có cửa kính nhìn ra biển trông cảnh nước xanh, sóng vỗ nhẹ nhàng, thuyền tàu vào ra tới tấp, thật rộn ràng sinh động cả buổi sáng sớm cho đến lúc chiều tà...
Khách sạn Anh Thi chúng tôi đang nghỉ là trên đường Trần Hưng Đạo. Đây là con đường chính kéo dài dọc các sườn đồi của đảo. Trên đảo Phú Quốc dài và có  ngọn núi cao như Núi Chùa với độ cao 603 mét, núi Rồng dài 10 km, núi Hàm Ninh dài gần 30 km. Ban ngày chúng tôi đi tham quan một số danh lam của đảo như: Làng Chài Hàm Ninh, Suối Tranh, Bãi Sao… Đến địa điểm nào cũng thấy khách du lịch nội địa và ngoại quốc đông đúc ngắm nhìn cảnh vật rồi chụp ảnh, quay phim và vui cười thích thú. Cũng không phải ở đảo Phú Quốc có gì đẹp đẽ hấp dẫn hơn ở nơi khác mà vì đây là một hòn đảo lớn ở phía Đông Nam Việt Nam tại một vị trí đắc địa chiến lược. Phú Quốc có hơn 12 nghìn dân. Diện tích đảo này là 593km2 (bằng cả nước Singapore), nhưng Singapore thì thiếu nguồn nước ngọt, họ phải mua nước ngọt của Malaysia dẫn đường ống về, còn ở đảo Phú Quốc của Việt Nam chúng ta thì có 5 con sông, con suối và hồ nước ngọt Dương Đông. Do đó, nước ngọt cho cả huyện đảo này sử dụng qua nước máy thoải mái.
Tại Phú Quốc có 10 đơn vị hành chính, trong đó có 2 Thị trấn: Dương Đông và An Thới, có 8 xã: 1.Cửa Can, 2.Giành Dầu, 3.Bãi Thơ, 4.Hàm Ninh, 5.Cửa Dương, 6.Dương Tơ, 7.Thổ Châu và 8.Hòn Thơm. Hầu hết các xã này nằm phía Nam đảo Phú Quốc, gần thị trấn An Thới.Còn phía Bắc đảo PQ thì có đền thờ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, khu rừng nguyên sinh quốc gia, và khu du lịch nghỉ dưỡng Vinpearl rất đẹp, là nơi vừa rồi tổ chức thi hoa hậu VN năm 2014.
Công ty du lịch ở Phú Quốc ban ngày đưa xe chở chúng tôi đi tham quan các nơi. Trên chuyến xe 16 chỗ ngồi với ba nhóm người, hai nhóm người Việt và một nhóm người Italia. Chúng tôi có đến thăm nhà tù Phú Quốc, xí nghiệp sản xuất nước mắm PQ, công ty nuôi trai lấy ngọc, vườn hồ tiêu xứ đảo, công ty sản xuất rượu sim v.v…
Khi vào thăm nhà tù PQ, mọi người rất xúc động khi nhìn thấy khu giam giữ tù nhân trong 13 trại giam dài chật hẹp, mái lợp bằng tôn về mùa hè rất nóng. Có mấy “chuồng cọp” ngoài trời, một chuồng sắt đóng kín. Chung quanh nhà tù này bị bao bọc bốn lớp hàng rào cao và giữa là vòng dây thép gai dày đặc, bốn phía đều có lính canh giữ với chó Bec-Rê. Bốn góc khu nhà tù có 4 tháp canh, đèn pha quét sáng liên tục.Mỗi tháp có lính đứng sát bên khẩu súng đại liên 12 ly/7, chờ nổ súng khi nghi ngờ có người vượt ngục. Trong phòng Bảo tàng nhà tù PQ có ghi danh sách những tử tù chính trị quê quán ở nhiều vùng trên ba miền đất nước ta. Chúng tôi đến thắp nhang tưởng niệm và tri ân những chiến sĩ cách mạng bị giặc thù tra tấn dã man và đã hy sinh trong tù trong thời giặc Pháp và giặc Mỹ chiếm đóng.
Sau một tiếng tham quan nhà tù, chúng tôi đến xí nghiệp sản xuất nước mắm PQ xuất khẩu nổi tiếng với độ đạm rất cao 45 độ. Đây là cơ sở sản xuất nước mắm gia truyền từ xưa có tiếng của ông Sơn Tỷ(con trai cụ Phụng Hùng mà ngư dân PQ thường gọi là “quỷ biển”, vì mỗi lần ra biển đánh cá cơm là thuyền của cụ Hùng rất nhanh chóng đầy ắp cá cơm). Cá cơm là loài cá làm nước mắm rất ngon.Nước mắm PQ làm từ loài cá cơm vùng biển quanh đảo PQ có hương vị thơm ngon đặc biệt. Trong xưởng làm nước mắm này, người ta đặt những chiếc thùng gỗ tròn rất lớn có ướp đầy từng lớp cá cơm với muối rồi đóng kín. Sau 2 năm thì được mở vòi tháo nước mắm ra chảy theo đường ống đến bể chứa. Tiếp đó cán bộ chuyên nghiệp lo xử lý kỹ thuật, kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm rồi đóng chai xuất xưởng. Phải nói rằng, quy trình sản xuất nước mắm PQ hiện nay rất bảo đảm an toàn thực phẩm và được khách hàng trong và ngoài nước tin cậy đặt hàng mua rất nhiều. Nhưng tiếc rằng, nguồn cá cơm tại PQ không đủ để cho xí nghiệp thực hiện sản xuất một khối lượng lớn để cung cấp cho thị trường. Do đó phải mua thêm cá cơm ở những vùng biển lân cận mới bảo đảm đủ lượng để sản xuất nước mắm.
Sau khi xem xong xí nghiệp sản xuất nước mắm, chúng tôi đến 2 trang trại nuôi trai biển để lấy ngọc. Các trang trại này đều do chuyên gia nước ngoài Nhật Bản và Australia tư vấn kỹ thuật và kinh nghiệm. Khi khách du lịch đến, họ trình bày cách nuôi trai trong các lồng đặt ngoài biển gần đảo. Họ lấy ra con trai đã được cấy hạt cát mầm chất trai xà cừ vào trong thân trai và đã nuôi 2 năm,  họ lấy dao cắt con trai đang sống đó ra và lấy kẹp gắp hòn ngọc bỏ ra trên đĩa cho mọi người xem. Người đứng xung quanh nhìn thấy viên ngọc rất đẹp mà đem lòng khâm phục những bậc cổ nhân trước đây đã sáng tạo ra cách làm giàu từ con trai biển. Ngay tại công ty này có cửa hàng trưng bày các loại trang sức bằng những chuỗi ngọc trai với nhiều màu sắc rất tinh xảo, đẹp đẽ. Có những chuỗi ngọc trai quý hiếm với giá lên tới hàng trăm triệu đồng.
 Sau khi xem xong cửa hàng trưng bày ngọc trai, chúng tôi lên xe chạy đến thăm vườn hồ tiêu đặc sản chất cay gia vị ở PQ. Hồ tiêu ở đây có vị cay thơm, ít nồng. Nhà hàng tiêu ở đây có bán các loại tiêu xanh, tiêu chín sấy khô. Tiêu xanh sấy khô thành tiêu màu đen, còn tiêu chín đỏ, họ làm lóc vỏ, sấy khô thành tiêu sọ có màu trắng đục. Tiêu sọ rất cay và có mùi thơm lâu. Nhiều người thích mua tiêu sọ này về làm quà gia vị cho bà con, bạn bè.
Trời về chiều, những đám mây trắng đang nhởn nhơ bay trên những đỉnh núi của đảo. Xe du lịch chở chúng tôi chạy băng băng con đường nhựa tới bên sườn đồi có công ty chế biến rượu sim PQ. Loại mật sim, rượu sim là đặc sản có thương hiệu nổi tiếng mà nhiều người gần xa đã biết. Cửa hàng rượu này đã rót sẵn ra các cốc ly nhỏ từng loại cho khách tham quan nếm thử. Tôi cũng nếm thử cho biết mùi vị ra sao mà nhiều người bạn của tôi trước đây đã từng mua về dùng các thứ rượu này và đều khen ngon.
Đúng là mật sim, rượu sim ngon thật! Chúng tôi và nhiều người rất ưa thích mua loại mật sim và rượu sim này về dùng. Chúng tôi còn tranh thủ ra xem vườn đồi  sim của công ty. Hoa sim tím nở rộ khắp vườn trông rất đẹp mắt. Người hướng dẫn viên du lịch nói rằng, đây là vườn sim có tính chất tương trưng để cho du khách biết cây sim, hoa trái sim mà thôi, còn đến mùa sim chín  thì công ty phải đi thu mua trái sim chín từ trong dân ở các vùng đồi núi nhiều sim. Khi nghe như vậy và nhìn cảnh vườn sim làm cho tôi càng nhớ lại đồi hoa sim tím vùng quê nội tôi ở thôn Phú Long, Hải Phú, Hải Lăng, Quảng Trị, mà nơi đây thời niên thiếu của tôi đã từng rủ nhau lên đồi hoa sim chơi vui, rồi đến mùa sim chín lại cùng nhau đi lên đồi hái sim ăn cho thỏa thuê rồi mang về cho người ở nhà thưởng thức hương vị trái quả của núi rừng. Khi hồi tưởng đến đay, tôi bỗng thầm nghĩ rằng, có lẽ tôi nên viết thư về cho ông Trưởng làng tôi tìm cách học hỏi chế biến mật sim, rượu sim để kinh doanh phục vụ cho du khách thường xuyên đến hành hương tại Thánh địa La Vang(sát làng tôi) thì sẽ được phát triển.
Buổi tối, chúng tôi đi dạo dọc bờ biển và ngắm cảnh chiều tà, hoàng hôn buông dần xuống biển. Sau đó ghé vào đường phố “Chợ đêm” Dinh Cậu nằm gần bờ biển. Khoảng 8 giờ tối là chợ đêm này bắt đầu đông đúc du khách đến mua sắm các đồ vật hải sản để lưu niệm. Đặc biệt là các hàng ăn với các món ăn hải sản tươi ngon ở biển PQ như mực, cua, ghẹ, tôm hùm, cá bớp, cá thu v,v… Tôm cá mực bơi lội trong các chậu thủy tinh, du khách cứ thỏa thích nhìn rồi chọn lựa theo ý mình và đặt luộc, nướng, chiên, xào hoặc nấu cháo, bún, miến để dùng. Tại chợ đêm này, tôi thấy có rất nhiều khách nước ngoài như: Nhật, Úc, Singapore, Malaysia, Nga. Nhiều nhất là người Nga (Vì có chuyến bay thẳng từ nước Nga sang đảo PQ). Tại các cửa hàng dọc các đường phố, chúng tôi thấy đề các bảng hiệu bằng 3 thứ tiếng: Tiếng Việt- Tiếng Anh và tiếng Nga. Vợ chồng chúng tôi cũng vào chợ đêm thưởng thức vài món ăn cho biết. Nhưng rất tiếc là các món ăn tại hàng ăn chợ đêm này nấu cũng không ngon bằng ở Huế. Tuy thế, điều ngạc nhiên của tôi là du khách ngoại quốc vào ăn đầy kín các nhà hàng, họ còn ngồi dãy bàn ra tận ngoài hiên.
Sau hơn 2 ngày du lịch thú vị ở đảo PQ, chúng tôi đặt vé tàu bay từ PQ ra thẳng Hà Nội trong buổi chiều. Ngồi trên tàu bay gần 2 giờ thì đến sân bay Nội Bài. Chúng tôi trở lại cái không khí tấp nập, hối hả dòng người trên xe cộ đi về trên các đường phố ở Thủ đô vẫn như mọi ngày. Về đến nhà, cuộc sống gia đình chúng tôi trở lại sum vầy, ấm áp. Vợ chồng chúng tôi kể lại cho các con cháu nghe về chuyến du lịch đầu tiên của ông bà tới đảo Phú Quốc thật là yên vui, thú vị!...
                          *******
                      Hà Nội ngày 12-12-năm 2014.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

    MẸ GIÀ ĐI BÁN HÀNG RONG
              (thơ  Nguyễn Hồng Trân)
                            ==00==
Suốt ngày mẹ bán hàng rong,
Thu nhập chút ít mà lòng thấy vui.
Đôi chân lần bước nhiều nơi,
Đêm về mỏi mệt, rã rời toàn thân.
Ước gì con cháu ở gần,
Để được nương tựa, yên thân tuổi già.
Cuộc đời tủi phận bôn ba.
Suốt ngày kiếm sống thật là long đong.
Bao giờ mới được thong dong?
Không còn vất vả cho lòng thảnh thơi!...
Nhìn xem xã hội với đời,
Không còn nghèo khổ với người trần gian…
                            NHT (Hà Nội T12-2014)

Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014

       Bút ký: MÙA THU NGOẠN CẢNH TÂY HỒ
                          Nguyễn Hồng Trân
Cũng khá lâu rồi vợ chồng chúng tôi chưa có dịp dạo quanh Tây Hồ. Trước đây chúng tôi đã từng sống ở Hà Nội nhiều năm trong thời kỳ học tập và công tác. Sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, chúng tôi trở về quê hương Trị- Thiên để phục vụ công tác giáo dục và y tế cho đến ngày nghỉ hưu vẫn thường trú ở tp. Huế. Thỉnh thoảng chúng tôi mới có dịp ra Hà Nội thăm con cháu, thăm bà con và bạn bè thân quen…
Hiện nay, vợ chồng chúng tôi đã ra lại cư trú tại Hà nội theo đề nghị của con cháu muốn chăm sóc, phụng dưỡng ba mẹ lúc tuổi già ốm yếu…  Giờ đây,chúng tôi có thời gian rộng rãi để đi du ngoạn cảnh Tây Hồ vào một ngày thu yên lành thoải mái. Ngoạn cảnh nơi đây thật là thú vị. Cảnh mây trời, hồ nước mênh mông thoáng mát dễ chịu và đã làm cho chúng tôi nhớ lại những kỷ niệm xa xưa suốt một thời gian dài đáng nhớ của tuổi trẻ đã học tập và công tác tại Thủ đô Hà Nội.
Hồ Tây theo truyền thuyết ngày xưa có tên lúc đầu là Đầm Xác Cáo(1)  , sau đó có tên là Hồ Kim Ngưu(2) (Hồ Trâu Vàng). Đến Thế kỷ XVI thì đổi tên hồ thành Dâm Đàm (3). Và tên cuối cùng cho đến sau này hồ được đổi tên là Tây Hồ (4).
Để ngoạn cảnh Tây Hồ,trước tiên, chúng tôi đi dạo dọc con đường Thanh Niên mà ngày xưa gọi là đường Cổ Ngư. Đường này là ngăn cách Hồ Tây và Trúc Bạch. Hồ Trúc bạch ngày xưa cũng thuộc Hồ Tây, sau đó người ta đắp lên một con đê ngăn ra một vùng hồ nhỏ để nuôi cá và xung quanh hồ này trồng nhiều cây trúc để làm mành, làm rèm sáo che nắng, che mưa…Hồ Tây thì rất lớn (hơn 500 hecta và chu vi gần 18 Km), hồ Trúc Bạch thì nhỏ (chỉ vài chục hecta và chu vi chỉ hơn 6 Km). Hai bên con đường này những hàng cây xanh tỏa bóng râm xuống mặt đường thật mát mẻ dễ chịu. Từng đoạn, từng đoạn gần sát mép hồ đều có những chiếc ghế đá hướng ra mặt hồ để cho du khách dừng chân ngồi nghỉ ngơi, ngắm cảnh và chuyện trò tâm sự… Những chiếc ghế nơi đây cũng đã từng chứng kiến muôn vàn cuộc hẹn hò tình tứ của lứa đôi trai gái ở Hà Nội, trong đó có chúng tôi và những người nơi khác đến du chơi ngoạn cảnh Tây Hồ rồi lưu lại bên hồ trong cảnh chiều tà cho đến tận đêm khuya thanh vắng…
Chúng tôi dạo bộ trên đường này một lúc rồi ghé vào tham quan lại chùa Trấn Quốc mà đã lâu lắm rồi chúng tôi chưa có dịp ghé thăm. Đây là một trong những ngôi chùa cổ của Hà Nội đã có từ thời Lý –Trần và cách đây khoảng 1500 năm. Ngôi chùa rất đẹp, nó tọa lạc trên hòn đảo nhỏ phía Đông của hồ, có ngọn tháp cao xinh xắn màu nâu đỏ. Nơi đây du khách hàng ngày ra vào tham quan tấp nập. Các sinh viên các trường thường đến viếng cảnh chùa để cầu nguyện; nhất là sinh viên trường Nghệ thuật đến ngắm cảnh chùa và vẽ tranh hoặc sáng tác lời ca, khúc nhạc…
Đến chùa Trấn Quốc làm tôi nhớ đến một sự kiện ngày xưa từ thời chúng tôi còn là sinh viên đến tham quan chùa này vào dịp hè năm 1959 thì được gặp đoàn đại biểu của Chính phủ Ấn Độ sang thăm nước ta do Tổng thống  Rajendra Prasad dẫn đầu ghé vào thăm chùa cùng đi với Bác Hồ. Lúc đó Tổng thống Ấn Độ có tặng cho nhà chùa một cây bồ đề Ấn Độ rất đẹp. Cây bồ đề ấy giờ đây đã sum xuê to lớn tỏa bóng mát cho cả một vùng rộng của sân chùa.
Chúng tôi đứng ở sân chùa nhìn ra Hồ Tây nước mênh mông xanh biếc và làn sóng lăn tăn vỗ nhẹ vào các thành kè ven hồ nghe rất êm ái thanh bình. Nhìn xa xa giữa mặt hồ có nhiều tàu thuyền qua lại chở du khách dạo chơi đây đó tham quan những di tích, thắng cảnh ven hồ như đền Quán Thánh, cung Từ Hoa, chùa Kim Liên, điện Thụy Chương, phủ Tây Hồ…
Trên dọc đường đi ven bờ Hồ Tây, chúng tôi nghe vang vọng những bài ca, khúc nhạc du dương, trữ tình, trầm bổng trong chiều đông ấm áp. Lúc đó chúng tôi bỗng nhớ đến mấy câu ca dao ngày xưa quen thuộc:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Tiếp đó chúng tôi đi ngược lên phía làng Kẻ Bưởi (ngày xưa có tên là Yên Thái), nơi đây là cái nôi làng nghề làm giấy dó nổi tiếng, nhưng dân làng rất vất vả, người dân phải đi lấy cây dó trên rừng về, phải chặt khúc rồi dã nhỏ bằng cối chày cả ngày đêm mới kịp làm giấy. Có loại giấy quý làng này làm ra được dùng cho nhà vua ban Sắc phong cho các làng xã, tộc phái có sự kiện điển tích về lịch sử, văn hóa đáng được tôn vinh, trân trọng.
Sau khi ra khỏi làng này, chúng tôi lên thuyền du lịch đi về Phủ Tây Hồ(5) để viếng thăm, ngắm cảnh một địa danh linh thiêng của Thăng Long Hà Nội. Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, ngày xưa nó thuộc một làng cổ của kinh thành Thăng Long. Chúng tôi đến Phủ Tây Hồ không phải vào dịp lễ hội thường niên vào ngày rằm tháng Giêng nhưng dân chúng đến hành hương và tham quan cũng rất đông. Chúng tôi đi dạo khắp vùng này và thấy người ta đến đốt vàng mả, hương trầm khói lên nghi ngút lan tỏa khắp cả vòm cây, mái ngói. Phủ Tây Hồ còn mang đậm nét cổ xưa ở các điện thờ, đền miếu… Nhất là quang cảnh xung quanh Phủ rất uy nghi, trầm tĩnh. Những cây si, cây sung, cây lộc vừng cổ thụ nghiêng mình sà thân cành gần sát mặt nước Hồ Tây tạo nên một dáng vẻ cổ kính linh thiêng. Đứng trong khung cảnh này, tôi cảm hứng làm mấy câu thơ với tựa đề:
CẢM CẢNH TÂY HỒ
Nước Tây Hồ mênh mông xanh biếc
Thuyền ngày đêm liên tiếp du chơi
Đàn chim bay liệng ngang trời
Như vui với cảnh cùng người tham quan
Đường ven hồ rộn ràng du khách
Tới đền chùa tấp nập hành hương
Người từ khắp cả bốn phương
Về đầy cầu nguyện an đường sinh linh…
Trời về chiều, chúng tôi lên thuyền ra giữa Hồ Tây rồi hướng về phía làng Thụy Khê để ngắm cảnh chiều hôm ở một vùng quê ven hồ. Lúc đó trên bầu trời Tây Hồ những đàn chim đang bay chầm chậm thành hàng như hẹn nhau trở về tổ. Bỗng nhiên có một cơn gió mạnh thổi qua làm thuyền chở chúng tôi rung rinh, chồng chềnh, cánh buồm nghiêng ngả và thấy đàn chim trên trời cũng hối hả bay nhanh. Thế là tự nhiên trong lòng tôi cảm thấy lo lo, sợ một cơn lốc đột ngột sẽ lật thuyền như chuyện chìm thuyền của đoàn nghệ thuật Trung Quốc khi chiều tối dạo chơi trên Hồ Tây vào đêm 11-9-1956. Các cụ già hồi đó ở gần Hồ Tây đã kể lại rằng, đoàn thuyền chở đoàn nghệ thuật TQ vừa ra đến giữa Hồ Tây thì đột ngột có một cơn lốc mạnh hất tung cả đoàn xuống hồ. Lúc ấy mọi người hốt hoảng không ngờ việc thiên tai ập đến bất ngờ cho đoàn TQ như thế. Đội cấp cứu đã tích cực cứu nạn được một số người, còn 9 người TQ mất tích. Mặc dù đã chăng lưới tìm kiếm cả đêm, nhưng vẫn không thấy. Hôm sau mới tìm được thi thể của 9 cô gái chưa chồng trong đoàn múa hoa sen của TQ, trong đó có cô Khương Nãi Tuệ là nữ nghệ sĩ múa có tiếng của TQ và một tay sáo danh tiếng là Phùng Tử Tồn cũng bị chết trong đêm hôm ấy. Thật là một chuyện chưa từng xẩy ra ở Hồ Tây từ xưa đến nay như thế!
Sau cơn gió mạnh thổi qua, chúng tôi đang ngồi trên thuyền mà vẫn không lo, cứ ung dung chuyện trò vui vẻ. Nhìn về phía gần bờ làng Thụy Khê có mấy chiếc thuyền nan có những người trên thuyền và dưới nước để vớt rong, mò ốc, bắt cá… cứ râm ran chuyện làm ăn kinh tế. Đặc biệt ở Hồ Tây người ta nuôi loài tôm càng xanh rất phát triển và đem lại nguồn lợi kinh tế khá cao. Trước đây, hàng năm người nuôi tôm càng xanh thu hoạch đến 40 tấn/ năm.  Qua thực tế ẩm thực, chúng tôi cũng biết về các loài cá, loài ốc và tôm ở Tây Hồ rất ngon. Vì thế một số hàng quán nhậu ở ven bờ với các món cá hấp, cá chiên, bún ốc, bánh tôm, v.v…lúc nào cũng đông khách thưởng thức. Ngoài ra, những người sống ven hồ còn cho biết thêm rằng, có một số tổ chức nuôi trồng sinh vật hồ đang nuôi loài cá hồi và nuôi trai lấy ngọc. Điều đó có nhiều hy vọng phát triển nghề nuôi thủy sản ở Tây Hồ được ổn định và bền vững, nếu chúng ta có biện pháp bảo vệ môi trường được tốt, không bị ô nhiễm nặng triền miên.
Sau khi rời khỏi thuyền lên bờ, chúng tôi đi bách bộ một đoạn quanh bờ hồ. Quang cảnh ở đây đã khác nhiều so với ngày xưa. Những hàng cây cau Tây, phượng vĩ, bằng lăng, hoa sữa … như thích thú với đất trời, hồ nước xanh trong và cứ thi nhau vươn mình lung lay thân cành trong gió chiều lộng mát.
Đi một lúc ngắm nhìn đó đây thư giãn tâm hồn, chúng tôi dừng chân ngồi lên ghế đá nhìn ra mặt hồ và hít thở không khí trong lành rồi cùng nhau nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa vào cái thời trẻ trung của cuộc đời sinh viên đã từng đi dạo quanh Tây Hồ với bao nhiêu tâm tình, ước vọng…
Ôi! Mùa thu ngoạn cảnh Tây Hồ thật là thú vị và vấn vương, thương nhớ bung lung, nhớ cảnh vật, nhớ tình người, nhớ hoài! nhớ mãi!..
        Hà Nội, Quý thu, năm Giáp Ngọ = 2014
Chú thích: (1) Đầm Xá Cáo: Theo truyền thuyết là nơi đây hang con cáo chín đuôi thường phá hại dân lành, bị Long Quân dâng nước lên công phá, giết chết con cáo đó và xác cáo phơi trên mặt đầm (đầm là vùng trũng có nước và có cả bùn lầy, lau sậy mọc um tùm).
(2) Hồ Kim Ngưu dựa theo truyền thuyết hồ Trâu Vàng. Truyện kể về một người khổng lồ ở đất Việt, sức khỏe phi thường, không ai địch nổi. Ông xuất gia làm thiền sư, đó chính là thiền sư Minh Không. Thiền sư Minh Không sang Tàu chữa bệnh cho con vua Tống. Khi công việc hoàn thành, vua muốn trả ơn. Nhà sư chỉ xin một ít đồng đen cho vào tay nải. Vua Tàu đồng ý cho thiền sư tự ý vào kho lấy đồng. Thiền sư đã lấy đồng đen đem về nước Nam. Về đến Thăng Long, ông dùng số đồng đó đúc thành bốn thứ bảo khí nhà Phật: Tượng Phật, tháp Báo Thiên, đỉnh đồng và một quả chuông đồng rất lớn. Chuông đúc xong, đức vua sai ông đánh một hồi chuông dài để báo hiệu cho dân chúng biết tin vui nước nhà đang thái bình thịnh trị! Tiếng chuông ngân đến tận kinh đô bên Tàu. Nghe tiếng chuông con trâu bằng vàng to lớn nằm trước kho đồng bên Tàu tự dưng bừng tỉnh "Đồng đen là mẹ của vàng" ngỡ là tiếng mẹ gọi nó liền vươn mình phóng thẳng xuống phương Nam tìm đến quả chuông khổng lồ, quần mãi xung quanh khiến cho cả một vùng đất lớn quanh quả chuông sụt xuống thành một vùng hố sâu và nước tràn đầy trải rộng thành một hồ nước mênh mông.
(3) Dâm Đàm: Theo sách Hồn sử Việt thì khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, hồ Kim Ngưu trở thành một địa điểm du ngoại được nhà vua và các quan ưa thích, nhiều lần trong các buổi du thuyền trên hồ, nhà vua gặp sương mù bao phủ, cảnh tượng hồ trở nêm huyền ảo mộng mơ, vì vậy hồ đã được đổi tên là Dâm Đàm.
(4)Tây Hồ: Đến năm 1573, để tránh tên húy của Vua Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi là Tây Hồ. Cái tên Tây Hồ có từ đó, ngoài lý do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàng Châu. Việc đặt tên các địa danh, sông hồ của Việt Nam theo chữ nghĩa  Trung Quốc là chuyện bình thường. Tây Hồ là cách đọc Hán Việt của hồ Tây, và hồ Tây đã trở thành cái tên gần gũi, lâu dài, nên thơ nhất đối với người Hà Nội cũng như nhân dân cả nước.
(5)Phủ Tây Hồ:nơi đây ngày xưa có một ngôi đền thờ bà chúa Liễu Hạnh, một người đàn bà tài hoa, giỏi đàn ca, thơ phú, đức độ nên đã được dân gian thần thánh hoá rồi tôn vinh lên thành đức Thánh Mẫu . Hàng năm vào rằm tháng Giêng âm lịch, khách hành hương về đây rất đông, vừa đi lễ cầu mong Thánh Mẫu ban cho điều lành và mọi sự may mắn; vừa đi thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ.