Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

         CUỘC DU NGOẠN VỀ BÁI ĐÍNH ,TRÀNG AN
                                           ==00==
                      Bút ký của  Nguyễn Hồng Trân
Vào ngày thứ 7 (4/4/2015), vợ chồng chúng tôi và cô con gái út Nguyễn Thị Phong Ly đi du ngoạn về chùa Bái Đính và vùng du lịch sinh thái Tràng An ở Ninh Bình. Chuyến đi theo tour trọn gói một ngày này thật là thú vị. Chúng tôi khởi hành tại trước sân Nhà Hát lớn Hà Nội vào lúc 8 giờ 20 với 16 khách du lịch. Có anh Nguyễn Bá Dũng hướng dẫn viên DL và anh Đỗ Anh Tuấn lái xe về vùng tham quan.
Đến Ninh Bình, chúng tôi đến tham quan chùa Bái Đính trước. Đây là ngôi chùa mới xây vào năm 2003, cũng không xa với ngôi chùa cũ. Ngôi chùa này tọa lạc trên một dải đồi núi liên hoàn rộng lớn. Các điện thờ, lầu chuông, tháp bảo (Bồ Đề Đại Trang =13 tầng), các tượng Phật rất to lớn ( 80- 100 tấn) uy linh làm bằng đồng có dát vàng, trông rất ấn tượng và xúc động lòng người. Đặc biệt là hành lang trưng bày 500 tượng đá các vị La Hán đất Việt.Và phía sau các bức tượng đá toàn thân đó là các tủ kính áp tường trưng bày rất nhiều tượng nhỏ bằng đồng có mạ vàng về các vị La Hán trên thế giới vinh tôn đạo Phật. Dãy hành lang liên tục này trải dài dến 2 Km lên dần các vùng đồi bao quanh ngôi chùa chính. Đây là một vùng chùa lớn nhất Đông Nam Á. Và người thuyết minh có nhắc đến một vị có công lớn trong việc hình thành vùng chùa Phật này là Lý Quốc Sư-Nguyễn Minh Không.
Chúng tôi đi tham quan các quần thể vùng chùa này trong vài giờ và lòng cảm thấy đầy phấn khởi tự hào với công trình xây dựng ngôi chùa này thật là uy linh, hoành tráng! Nhà nước ta đã quan tâm tích cực đến việc tự do tín ngưỡng và xã hội hóa những vùng đất có truyền thống ý nghĩa tâm linh trong đời sống của dân Việt. Chắc chắn rằng dân tộc Việt Nam luôn luôn nhớ ơn các vị tiên liệt Phật giáo đã làm sống mãi cho các thế hệ mai sau biết tri ân đạo nghĩa cuộc đời.
Sau khi tham quan xong vùng chùa Bái Đính, chúng tôi về Tràng An để du lịch vùng sinh thái sông núi, hang động hùng vĩ độc đáo hấp dẫn mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Ninh Bình.
Đến đây, chúng tôi được tổ chức đi tham quan bằng thuyền có người chèo tay theo dọc sông đi vào các hang động và đền chùa trên vùng dọc sông núi Tràng An. Chúng tôi cũng như những du khách được bố trí một cách trật tự cứ 4-5 người lên một thuyền nhỏ để chèo đi. Đoàn thuyền hàng trăm chiếc cứ nối đuôi nhau lướt trên sông với tiếng cười vui râm ran trong gió chiều lộng mát và cứ lần lượt tiến vào vùng hang động huyền ảo với không khí tưng bừng, rộn ràng như ngày hội…
Đoàn thuyền đưa du khách lần lượt chui qua 9 hang động như: hang Tối, hang Sáng, hang Nấu Rượu, hang Seo, hang Khống, hang Thần, hang Quy Hầu, hang Ba Giọt… rồi quay về theo một lối dòng sông hướng khác.
Cứ xem qua vài hang lại ghé vào thăm một ngôi đền hoặc chùa nhỏ bên sườn núi, sát bờ sông. Chỗ nào cũng đông người viếng thăm và tự nguyện bỏ tiền vào hòm công đức. Ở đây không có chuyện dân địa phương tranh dành nhau mua bán hàng quà hoặc cò mồi đặt mâm cỗ tế lễ làm mất trật tự như một số nơi khác. Mọi du khách rất yên tâm và hân hoan trong chuyến du ngoạn về vùng đất Văn hóa tâm linh Tràng An và Bái Đính ở Ninh Bình.
Đến 8 giờ tối cùng ngày, chúng tôi trở về Hà Nội bình yên, vui vẻ và lòng tràn đầy niềm xúc cảm về những gì đã tạo nên ấn tượng sâu đậm cho chuyến du ngoạn rất thoải mái, bình yên trong khung cảnh núi rừng, sông nước đầy mộng mơ và hy vọng. Thế là đoàn du lịch vùng Bái Đính –Tràng An đã kết thúc. Chúng tôi chào nhau tạm biệt với niềm lưu luyến, vấn vương rồi hẹn ngày gặp lại./.
                               Hà Nội ngày 5/4/2015.
                                             NHT

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

                    CHUYỆN THỦ THUẬT BÓI KIỀU
                         NGÀY XUÂN CỦA BẠN TÔI
                                                  ==00==                               
                                        Nguyễn Hồng Trân
Tôi có mấy người bạn thật có tài học thuộc lòng một số tác phẩm văn thơ như các ông Trần Đức Ngọc, Nguyễn Đình Cống, Đinh Cự,v.v… Ông Ngọc thì thuộc rất nhiều bài thơ của tác giả người Pháp, Nga; ông Cự thì thuộc nhiều đoạn chuyện Tam Quốc, Thủy Hử của Trung Quốc; Ông Cống thì thuộc gần hết truyện Kiều của Nguyễn Du. Do có lợi thế đó, nên ông ta say mê nghiên cứu việc bói Kiều và  ông cũng đạt tới một kỷ xảo về thủ thuật bói Kiều hiện đại. Đó là bói Kiều theo kiểu hiểu biết dựa vào đặc điểm tâm trạng của đối tượng được bói, đồng thời sự kết hợp nhạy bén suy đoán của chủ quan của ông tương đối có lý. Vì vậy làm cho nhiều người tin là bói Kiều thật là hay!
Bói Kiều theo kiểu này không phải ai cũng bắt chước được. Có lẽ cũng hiếm người thuộc lòng hầu hết Truyện Kiều như ông Cống. Ông Cống là một vị GS.TS về ngành xây dựng, nhưng kiến thức của ông về văn hóa rất sâu rộng. Tôi rất khâm phục ông điều đó. Ông Cống là một trong những người bạn thân của tôi. Tôi học hỏi ở ông được nhiều điều, nhưng không thể học được cách bói Kiều của ông ta. Vì đó là Trời phú cho trí nhớ của ông thật tuyệt vời. Ông Cống không những nhớ bố cục các nội dung trong Truyện Kiều mà còn thuộc lòng nhiều câu Kiều trong nội dung từng phần của Truyện Kiều. Mặt khác, ông cũng đã thuộc sách “Kim vân Kiều truyện” (thể văn xuôi) của Trung Hoa ngày xưa mà từ sách chuyện đó Nguyễn Du đã sáng tạo thành truyện thơ lục bát bằng chữ Nôm tiếng Việt và sau này xuất bản thành chữ Quốc ngữ thì rất thuận tiện cho nhiều người trong xã hội ta đọc được, làm họ rất thích thú và ngưỡng mộ cái thiên tài của Nguyễn Du đã làm nên một tác phẩm bất hủ cho nền văn hóa Việt Nam.
Ông Cống đã từng kể vanh vách cho bạn bè nghe nội dung từng phần của Truyện Kiều như sau:
TỪNG PHẦN NỘI DUNG TRUYỆN KIỀU

Thủ thuật bói Kiều của ông Cống là không phải như bói Kiều của mấy ông thầy bói ngày xưa là đọc lên mấy cầu Kiều trong trang nào đó mà nhân sự nhẩm lời thầy bói hướng dẫn rồi mở ngẫu nhiên ra một trang sách Kiều tùy chọn để cho thầy đọc và thầy giải thích về ý nghĩa các câu Kiều cho đương sự nghe để tự hiểu về mình…
Cách bói Kiều của ông Cống khác hẳn. Ông hỏi nhân sự cần bói về ngày tháng năm sinh rồi ông tự lẩm bẩm thì thầm và đưa sách Kiều cho nhân sự tự dở trang sách tùy ý rồi ông liền lấy sách xem một lát rồi đọc mấy câu Kiều cho nhân sự đó nghe.
Sự thực, ông Cống không xem gì trong trang sách đó cả, mà ông giả vờ chăm chú xem để suy nghĩ lựa chọn một vài câu có trong truyện Kiều mà ông đã thuộc lòng và lại phù hợp với đặc tính với nhân sự để ông đọc ra. Thế là nhân sự cần bói Kiều cảm thấy đúng với bản thân mình và liền tin tưởng lời bói Kiều của ông Cống quả thật là hay…
Thủ thuật bói Kiều của ông Công là thế đấy. Ông ta chỉ bói khá đúng cho từng nhân sự mà ông ấy quen biết và hiểu được đặc tính của họ.  
Ví dụ: *Khi bói cho một anh bạn có tật hay uống rượu thì ông Cống đọc câu Kiều:
"Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật  mình, mình lại thương mình xót xa"
*Khi bói cho cô gái vừa trải qua một chuyện buồn, cần có sự động viên, ông Cống đọc các câu:
Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời
Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa
*Khi bói cho anh bạn mới có người yêu, ông đọc câu:
“Thương sao cho trọn thì thương
Tính sao cho vẹn mọi đường, thì vâng!”
*Khi bói cho anh chàng ít khi giữ lời hứa với bạn là người phi quân tử thì ông đọc câu:
“Dặm khuya ngất tạnh mù khơi”
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông”
*Khi bói cho người bạn có tính tự trọng, luôn giữ lời hứa thì ông ấy đọc câu:
“Trăng thề còn đó trơ trơ
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng”

Hoặc lấy câu Kim Trọng thề với Thúy Kiều:
Ví dù giải kết đến điều
Thì đem vàng đá mà liều với thân
.
*Khi bói cho cô bạn hiền hậu, đoan trang rất biết tôn trọng tình yêu thì ông Cống đọc câu Thúy Kiều đã hứa với Kim Trọng:
“Đã nguyền đôi chữ đồng tâm
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai…”

Tôi chỉ lấy một vài ví dụ như thế. Còn nhiều nữa…
Như thế mới biết cái tài nhanh trí phán đoán của ông Cống và cái  vốn liếng hiểu Truyện Kiều, thuộc gần hết 3654 câu là một trí nhớ tuyệt vời của ông ta. Không những ông thuộc lòng câu thơ mà còn tìm hiểu các từ khó, các điển tích trong thơ qua những lời chú thích Truyện Kiều của học giả Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Nguyễn Quảng Tuân…
Tôi rất khâm phục ông GS.TS. Nguyễn Đình Cống với cái trò chơi trí tuệ của ông về chuyện đầu xuân bói Kiều đã làm cho bạn bè vui vẻ quý mến ông.Tôi cảm hứng chuyện này rồi làm mấy câu thơ tặng ông Cống như sau:
Cái tài ông Cống bói Kiều
Làm cho thiên hạ có nhiều người tin
Truyện Kiều không phải là tiên
Bói gì trúng nấy mà yên phận mình!
Chẳng qua thủ thuật thông minh
Vui xuân giải trí nào linh nghiệm gì!...
                                         ==00==
Hà Nội mùa xuân năm Ất Mùi =2015
Nguyễn Hồng Trân (cựu GV Đại học Khoa học Huế )                 

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

NHỚ LẠI CHÙM THƠ ANH VIẾT CHO EM
                     ==00==
            Nguyễn Hồng Trân

Chùm thơ anh viết cho em
Khắc vào tâm trí say men tình nồng
Tâm hồn như nước trên sông
Đầy vơi, trong đục theo dòng trôi êm

Chùm thơ anh viết cho em
Là vầng trăng sáng trên nền trời xanh
Như chim ríu rít trên cành
Gọi nhau bay lượn vòng quanh mọi miền

Chùm thơ anh viết cho em
Tràn dâng cảm xúc triền miên tháng ngày
Buồn vui, sướng khổ, đắng cay…
Cuộc đời trải nghiệm chứa đầy niềm tin

Chùm thơ anh viết cho em
Tấm lòng nhiệt huyết gắn liền tình yêu
Xa nhau càng nhớ nhau nhiều
Đêm đêm thổn thức bao điều truân chuyên…

Chùm thơ anh viết cho em
Là giàn lửa ấm suốt đêm đông tàn
Cùng nhau chờ đón xuân sang
Bao niềm ân ái dâng tràn trong tim…
                    ==00==

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

CHÀO MỪNG NGÀY KỶ NIỆM PNQT 8-3
                                 ==00==
Nhân dịp kỷ niệm 105 ngày PNQT 8-3 năm nay 2015, tôi xin nhắc nhắc lại một câu chuyện xưa về một tấm gương của người phụ nữ Việt Nam con nhà danh gia vọng tộc đã rất đầy lòng hiếu nghĩa, nhân ái hiếm có. Đó là chuyện công chúa Trần Huyền Trân. Một cô gái rất trẻ, mới quá tuổi trăng tròn đã tuân theo lời hứa hẹn của vua cha và lời khuyên của vua anh cùng quần thần dân chúng để đất nước được an bình, quan hệ hữu hảo với ngoại bang mà phải chịu đành lòng xuất giá lấy chồng xa, nơi xứ lạ nước người. Nhưng rồi số phận của nàng đã tiêu tan hy vọng. Tôi cảm động trước tình cảnh của Huyền Trân công chúa và làm mấy câu thơ để chia sẻ…
         TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN
            
Mối tình lịch sử khó ai quên ,
Công chúa Huyền Trân giữ lời nguyền.
Phải lấy Chế Mân làm vợ  kế.
Tăng phần quan hệ Việt và Chiêm.
Châu Ô, Châu Rý về Thuận Hóa.
Thỏa lòng mong ước cả đôi bên.
Nhưng phận của nàng thật xấu số.
Lấy chồng, chồng vội bỏ quy tiên.(1307)
Mang thân góa bụa đời dang dở .
Để lại ngàn năm một sử tình ...
                  Nguyễn Hồng Trân

Ghi chú: Công chúa Huyền Trân(1287-1312) là con gái của Vua Trần Nhân Tông(1258- 1293), em gái vua Trần Anh Tông. Để thực hiện lời hứa của vua cha sẽ gả con gái Huyền Trân cho vua Chăm để hai nước Việt -Chăm an bình hữu hảo.Vua con Trần Anh Tông đã chấp thuận cho vua Chế Mân nước Champa (Chiêm Thành) sính lễ giao hai châu Ô và châu Rí(Lý) về cho nước Việt và rước công chúa Huyền Trân về làm hoàng hậu.
          Ngày xưa nước Việt chúng ta ranh giới phía Nam chỉ đến Đèo Ngang mà thôi. Sau đó hai nước Việt và Chiêm cứ xung đột nhau bao nhiều lần. Vua Việt cho quân đánh đuổi quân Chiêm Thành lùi vào đến vùng Ma Linh Cửa Việt (thuộc tỉnh Quảng Trị bây giờ). Qua nhiều lần giao tranh rồi hòa hoãn, về sau được kết nối với nhau trong hòa bình thân thiện nhờ sự chuyển biến tình cảm bang giao giữa hai đức vua Việt và Chiêm trở thành thông gia với một chuyện tình đặc biệt.
          Sau đây tôi xin giới thiệu thêm một đoạn nghiên cứu về cuộc đời của công chúa Trần Huyền Trân của ông Trần Cao Lộc để quý vị hiểu rõ thêm.
                  TÌM HIỂU VỀ CÔNG CHÚA TRẦN HUYỀN TRÂN
TRẦN  CAO  LỘC
Năm 1306, khi gót ngà của Trần Huyền Trân tiến về phương Nam là lúc công chúa Đại Việt đã biến thành một danh nhân diệu kỳ nhất trong lịch sử Việt Nam. Một sứ giả hòa bình xinh đẹp cho mối giao hảo Việt Chiêm, cũng là khởi nguồn để dân Việt mở rộng giang sơn đến mũi Cà Mau. Gót hồng ấy không khác một Nữ hoàng dùng “Đế đạo” để chinh phục một phần nước Chămpa mà không tốn một sinh mạng của quân binh hai nước.
Theo “Nghệ An ký” của Bùi Dương Lịch, trước đây có nước Việt Thường từ phía Nam đèo Hải Vân đến Bắc tỉnh Bình Thuận. Đến thế kỷ thứ VII, Việt Thường bị phân hóa, Bắc nhập vào nước Văn Lang, Nam nhập vào nước Lâm Ấp (Lingi) thành nước Chămpa. Đến đời Đường (620 – 906), người Trung Hoa cắt phía Nam nước Văn Lang cho Champa để tạo thù hai nước.
Đến năm 1305, Vua Chế Mân trả đất ấy cho Đại Việt dưới hình thức sính lễ, một tặng phẩm độc đáo nhất trong lịch sử hôn sự. Theo đó thì nước Việt sẽ tiếp quản một dải đất trải dài mấy trăm cây số.
Chúng ta hãy ngược dòng lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của cuộc hôn nhân này. Vua Trần Nhân Tông có lần theo sứ đoàn Chămpa của Bảo Lộc Kê đến kinh thành Phật Thệ (Vijaya). Vua Chế Mân rất hâm mộ vua nước Việt và đã xin cầu hôn công chúa Trần Huyền Trân, bây giờ mới có 14 tuổi. Nhà vua hứa gả và hẹn đến 4 năm sau hãy đến Đại Việt cầu hôn. Về triều, vua Nhân Tông báo cho vua Anh Tông về lời hứa gả này. Ngài dặn đừng cho công chúa biết sớm, chỉ mời Ngự y dạy Huyền Trân về thuốc Nam và châm cứu, mời Nữ sư Chiêm dạy tiếng Khartapu để công chúa có thể đàm thoại với người Chăm và dạy tiếng Sanskrit để đọc được sử thi Ấn Độ. Ngoài ra cho công chúa tự chọn 4 người hầu thông minh và giỏi võ để cùng học tiếng Khartapu.
Mùa thu năm 1305, sứ Chiêm là Chế Bồ Đài trình quốc thư cầu hôn với nhiều lễ vật quý hiếm và trang trí trên bạch tượng một kiệu hoa hết sức lộng lẫy. Vua Anh Tông họp triều bàn hôn sự. Phe tướng có Đoàn Nhữ Hài đòi đem binh “làm cỏ” Chiêm Thành. Quan văn hưởng ứng không gả, bảo Chế Mân đã già, dù vương phi Tapasi đã chết, nhưng còn hai con là Chế Chí và Chế Văn đều xấp xỉ tuổi công chúa nên sau này con của công chúa rất khó làm quốc vương Chiêm Thành. Phe đồng ý gả có Trần Đạo Tái và Trần Khắc Chân nói lời hứa gả của Thượng hoàng không nên xem nhẹ. Vua Anh Tông hỏi ý công chúa và Thái hậu Tuyên Từ, nhưng chỉ thấy khóc không nói lời nào.
Vua Chế Mân sợ sính lễ không xứng với công chúa Đại Việt liền phi báo bổ sung sính lễ. Ngoài thần phục và nộp cống còn đem toàn quân đến trợ chiến khi có chiến tranh và dâng trả 2 châu Ô và Rí. Lúc bấy giờ, Vua Anh Tông đến với công chúa và thái hậu để phủ dụ. Việt – Chiêm có duyên với nhau từ khi Thượng hoàng giúp Chiêm 20.000 quân và 500 chiến thuyền để chống giặc Mông Cổ. Vua Chế Mân khi ấy còn là thái tử đã cùng vua cha chiến đấu anh dũng dưới chân thành Đồ Bàn. Điều đó đủ minh chứng Chế Mân là vị vua anh hùng. Vua Chế Mân đã chờ cưới suốt 4 năm, nay lại hết lời cầu khẩn, nên công chúa về Chiêm quốc không phải là không có hạnh phúc. Vả lại, nếu từ chối thì Việt Chiêm khó tránh cảnh đầu rơi máu đổ, nên vua quyết gả.
Thế là mùa xuân năm 1306, công chúa Huyền Trân bước lên kiệu voi trắng, để lại sau lưng quốc tiệc tiễn đưa. Kiệu voi công chúa vào đại ngàn Trường Sơn. Các nữ tỳ Chiêm túc trực bên Huyền Trân sẵn sàng giải thích tường tận các đặc trưng Chiêm thành để nàng làm quen với quê hương mới. Gần đến kinh thành Phật Thệ, các tỳ nữ Chiêm dâng hôn phục cô dâu cho Công chúa. Y trang toàn bằng tơ tằm nhuộm xanh nhạt và được dát vàng, đính ngọc đến tận đôi hài hoa. Đai ngọc trai, vương miện có đính ngọc lục bảo, có tua bằng nhiều sợi tơ vàng để che mặt.
Từ xa, công chúa thấy kinh thành Phật Thệ cờ hoa rực rỡ. Hai bên cửa thành là hai hàng triều hầu văn võ, sau lưng có chiến binh, bên ngoài nhân dân reo hò. Vua Chế Mân thúc voi trắng tiến lên đến gần kiệu hoa. Vua vừa bập bẹ vài tiếng Việt mời công chúa vào triều, Huyền Trân bèn nói một tràng tiếng Khartapu ra mắt, khiến vua sững sờ vui thích. Vào triều, vua phong ngay công chúa Đại Việt làm hoàng hậu và truyền khắc vào bia đá Po Sah ở cổ thành Indrapura (Đồng Dương).
Hoàng hậu ra mắt triều thần đúng nghi thức Chiêm thành. Công chúa nói bằng tiếng Chiêm thỉnh cầu vua thả hết tù nhân và mở kho chẩn bần khiến triều thần đều tôn kính.  Kinh thành bắt đầu lễ hội suốt 7 ngày đêm. Quốc vương tỏ ra quý trọng và cho tạc tượng. Vua còn cho thợ đẽo guốc bằng gỗ quế để nàng đi cho ấm chân, tắm suối nước nóng ở Cát Lỗi và trồng nhiều mai bên bờ suối cho Huyền Trân thưởng xuân.
Nhưng hạnh phúc đến với Huyền Trân chẳng được lâu dài, chỉ sau 11 tháng làm hoàng hậu Chiêm Thành, đến năm 1307 Vua Chế Mân băng hà sau chuyến đi xem xây Tháp Thần Po-Yăng-Prong ở cao nguyên Daklak. Triều đình cử hành lễ quốc tang 7 ngày. Các phi tần của vua lần lượt bị ném sống vào lửa, riêng hoàng hậu đang có mang nên được hoãn lại đến sau khi sanh sẽ phải chết theo Vua. Mùa thu năm 1307, nàng sinh được một hoàng tử. Trước khi lên dàn hỏa, nàng xin về Đại Việt báo tang và đã sinh con. Trước đó, nàng đã sai người về quê hương lén trao mật thư lên hoàng huynh Trần Thuyên.
Dân gian có câu chuyện kể khác với những gì ghi trong Đại Việt sử ký toán thư, song rất thú vị, chuyện kể rằng, vua Anh Tông tuyển chọn sứ đoàn, đứng đầu là An phủ sứ Đặng Văn với mật chỉ rước Huyền Trân về an toàn, phò trợ có tướng Trần Khắc Chung với 100 ngự lâm quân. Vua Chiêm bấy giờ là Chế Chí chấp thuận và cho 200 quân cùng 4 cung nữ Chiêm theo bảo vệ. Đến Huế, tướng Chung đuổi cung nữ và  quân Chiêm về. Phái đoàn cố đi trong mưa bão khắc nghiệt của miền Trung và về đến kinh thành Đại Việt an toàn. Thế là công chúa Trần Huyền Trân đã làm tròn sứ mạng của một sứ giả hòa bình Việt Chiêm.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, đến năm 1308, công chúa đã đi tu trên núi Hổ ở huyện Thiên Bản với pháp danh là Hương Tràng (3). Nàng tu được 4 năm thì mất (1308-1312). Tương truyền, tóc nàng dính lại một cách kỳ lạ, có người bảo nàng bị  “bùa Hời”. Mộ của Trần Huyền Trân ở thôn Tức Mặc, phủ Thiên Trường (Nam Định), trên bia chỉ đề Hoàng hậu Paramesevari. Riêng miếu thờ Công chúa ở làng Kim Lâu (Cam Lộ- Quảng Trị) bên giếng cổ của người Chăm, vách giếng là đá ghép rất đẹp. Ở núi Ngũ Phong, phường An Tây, thành phố Huế có đền thờ nàng tức “Đền Hương Tràng” (2007) có tượng bằng đồng, gần với “Đền Kim Phật” (2011) có rồng dài 105m, tức Vua Trần Nhân Tông. Hai đền đều ở trong khuôn viên rộng 28,38 ha, trong có cả cung Vân Phụng, lăng Khải Định, tháp Thiền sư Liễu Quán và Bảo tàng Lịch sử nhà Trần (1225 – 1413).
Những thế kỷ trước, để ghi nhớ công ơn mở mang bờ cõi của các vị công thần khai quốc, triều đình và nhân dân Huế đã lập miếu thờ Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, thành phố Huế, trong đó có công chúa Huyền Trân. Do chiến tranh và những biến thiên lịch sử, đến nay miếu không còn nữa. Vì vậy, đền Huyền Trân khánh thành năm 2007 là sự chuyển tiếp ý nguyện, lòng thành kính của nhân dân đến công chúa Huyền Trân. Đền khá rộng với quy mô 28ha, tọa lạc tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, phường An Tây, thành phố Huế
Mấy trăm năm sau, Tổng đốc Quảng Nam là Võ Chuẩn đã tưởng niệm công ân của công chúa với bài nhạc “Nước non ngàn dặm ra đi” theo điệu Nam Bình. Đến nay (2010) vẫn còn vang vọng trên sông Hương, núi Ngự xứ Huế.

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2015

     NĂM ẤT MÙI, CHO BẦY DÊ THÊM HY VỌNG!
                      ==00==
                Nguyễn Hồng Trân
Giáp Ngọ- ngựa qua, Ất Mùi- dê đến
Nhảy tung hoành khắp mọi chốn sơn khê
Bầy đàn thân thiết, sớm tối đi về
Trong đêm lạnh rủ nhau vào hang nghỉ

Suốt cả ngày lo tìm ăn chăm chỉ
Thích gặm nhiều các loại lá trái cây
Nhảy thoăn thoắt qua dốc đá rừng dày
Cứ hiên ngang chẳng sợ kẻ thù đến

To như voi còn sợ loài nhỏ kiến
Hổ báo rừng nhảy chậm kém loài dê
Khi rượt đuổi, thú dữ mệt ê chề
Đành bỏ cuộc thua bầy dê nhanh nhẹn

Sang năm mới Ất Mùi đầy hứa hẹn!...
Nghèo khổ giảm dần, tiệm cận ấm no
Cuộc sống an lành, dân chủ, tự do
Mong cho cả năm an lành, thịnh vượng…

         Hà Nội năm Ất Mùi=2015
                        NĂM  ĐỊNH DANH CON DÊ
                   -BÀN LUẬN VỀ CÁC TUỔI MÙI
                                     Nguyễn Hồng Trân
Chúng ta đều biết rằng, cứ hàng năm theo âm lịch là có định danh một con vật theo thứ tự một vòng với 12 con vật: Tý(chuột), Sửu(trâu), Dần(hổ), Mão(mèo), Thìn(rồng), Tị(rắn), Ngọ(ngựa), Mùi(dê), Thân(khỉ), Dậu(gà), Tuất(chó),Hợi(Heo).
Từ xưa đến nay, dân gian ta ai sinh ra năm định danh con vật nào thì gọi là tuổi của năm ấy.Hiện nay, đã đến năm Ất Mùi. Những người sinh ra cách đây 60 năm và những ai mới ra đời sau Tết Nguyên đán năm này đều là tuổi Ất Mùi.  Ta có thể nói cho dễ hiểu là trong “làng Mùi”(dê) này có 5 họ: 1.Ất Mùi, 2.Đinh Mùi, 3.Kỷ Mùi, 4Tân Mùi, 5.Quý Mùi.
Đối với các họ Mùi này có ý nghĩa phong thủy như sau:
1.Ất= vạn vật được xuất hiện trồi lên
2.Đinh= vạn vật bắt đầu phát triển mạnh mẽ
3.Kỷ = vạn vật thành hình hoàn chỉnh rõ rệt
4.Tân=  vạn vật được kết quả thu hoạch
5.Quý= vạn vật có thể định lượng giá trị được.
Theo thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH của nền văn hóa Á Đông thì 5 họ tuổi Mùi nói trên thuộc 5 hành tinh sau:
1.Ất Mùi: thuộc Kim
2.Đinh Mùi: thuộc Thủy
3.Kỷ Mùi: thuộc Hỏa
4.Tân Mùi: thuộc Thổ
5.Quý Mùi: thuộc Mộc
Theo quy luật tương sinh và tương khắc của Ngũ hành tinh thì Kim khắc Mộc rất mạnh. Do đó, các tuổi thuộc bổn mệnh Mộc sẽ chịu ảnh hưởng không tốt nhiều mặt trong đời sống như giao thông đi lại, triển khai công việc quan trọng…
*Các tuổi thuộc mệnh Mộc bị năm Ất Mùi thuộc Kim =khắc là:
1.Mậu Thìn, 2.Mậu Tuất, 3.Kỷ Tỵ, 4.Kỷ Hợi, 5.Canh Dần, 6.Canh Thân
7.Tân Mão, 8.Tân Dậu, 9.Nhâm Tý, 10.Nhâm Ngọ, 11.Quý Sửu, 12.Quý Mùi.
Nhưng năm Ất Mùi thì lại thuận lợi cho các tuổi thuộc mệnh Thủy. Đó là các tuổi sau:
*Các tuổi thuộc mệnh Thủy được năm Ất Mùi thuộc Kim=sinh là:
1.Nhâm Thìn, 2.Nhâm Tuất, 3.Quý Tỵ, 4.Quý Hợi, 5.Giáp Dần, 6.Giáp Thân, 7.Ất Mão, 8.Ất Dậu, 9.Bính Tý, 10.Bính Ngọ, 11.Đinh Sửu, 12.Đinh Mùi.
Ngoài ra có các tuổi bị ảnh hưởng nhẹ như giảm sút sức khỏe, thiệt hại nhẹ đến tiền tài, danh vọng như các tuổi sau đây:
*Các tuổi thuộc mệnh Thổ, sinh thành nuôi dưỡng cho các tuổi hành Kim Ất Mùi  nên sẽ bị hao tổn. Đó là các tuổi sau:
1.Bính Thìn, 2.Bính Tuất, 3.Đinh Tỵ, 4.Đinh Hợi, 5.Mậu Dần, 6.Mậu Thân, 7.Kỷ Mão, 8.Kỷ Dậu, 9.Canh Tý, 10.Canh ngọ,11.Tân Sửu, 12.Tân Mùi.
Trên đây là một số luận giải vắn tắt theo thuyết âm dương ngũ hành mà tôi đã trình bày. Thực ra, vấn đề tuổi tác và sinh khắc theo tục lệ dân gian Việt Nam xưa nay chúng ta cần biết để chú ý thực hiện cho yên tâm mà thôi, còn có linh nghiệm hay không thì chưa ai có thể đánh giá được chính xác cả. Chúng ta thấy điều gì tốt thì lưu ý tiến hành, còn cái gì có hại thì ta tránh, thế thôi. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Chúng ta không nên quá mê tín khi chưa có thực tế trải nghiệm, nhưng cũng không nên quá hờ hững, coi thường những chuyện về tâm linh. Hãy sống chân thành, trung thực với đời thì niềm vui sẽ tồn tại mãi mãi cùng với bà con, bạn bè và cộng đồng dân chúng./.
                                        Hà Nội 15/2/2015                            
                           NHT (Email:nghongtran38@gmail.com)

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

LỜI TÂM TÌNH VỚI CHẬU CẢNH BONSAI

                   Nguyễn Hồng Trân
Anh nhìn chậu cảnh Bon Sai 
Lòng anh thổn thức nhớ hoài bóng em
Ánh trăng rọi chiếu bên thềm
Anh cùng em đứng ngoài hiên ngắm nhìn 
Lá hoa chậu cảnh lặng yên
Anh em ta đã liên miên chuyện trò
Âm thanh trầm bổng nhỏ to
Bao lời ân ái hẹn hò đêm trăng
Cây cảnh nhiều kiểu lá xanh
 Mấy loài có quả trên cành nhỏ xinh
Gió đưa cành lá rung rinh 
Tạo nên sinh động cho mình vui tươi
Nhìn cây cảnh, càng yêu đời
Những gì phiền muộn đều vơi nguôi dần
Thấy hoa nở thắm đầy thân
Vấn vương nỗi nhớ xa gần tháng năm  
Đêm đêm lòng cứ bâng khuâng
Đứng bên khung cửa tần ngần muốn ra
Xem chậu cảnh, ngắm cành hoa 
Cho lòng thỏa thích đậm đà tình yêu
Không gian chất chứa bao điều 
Thời gian ẩn hiện bấy nhiêu sự đời
Vui buồn có lúc, có thời
Khi nhìn cây cảnh thảnh thơi tinh thần
Những điều trăn trở phân vân  
Đều được định liệu dần dần yên tâm
Dù cho cách trở xa xăm 
Tình ta vẫn cảm như gần bên nhau
Mối tình chung thủy nặng sâu
Dù có nghèo khổ vẫn giàu tình thương
Cho dù xa cách dặm đường
Tình ta vẫn cứ vấn vương bên mình
Niềm tin sức mạnh sinh linh
Giúp người ta vượt thác ghềnh khổ đau 
Thà rằng khổ trước, sướng sau
Còn hơn sướng trước, về sau khổ nhiều
Còn lo thực hiện bao điều
Xây đắp hạnh phúc với nhiều niềm vui
Không còn tủi phận bùi ngùi
Sống cho thoải mái thêm vui tuổi già
Mỗi lần ngắm cảnh, nhìn hoa
Tinh thần thư giãn cho qua tháng ngày
Thời gian tựa gió mây bay
Trôi đi nhanh chóng đến ngày quy tiên
Mong sao cuộc sống bình yên
Nghĩa tình trọn vẹn là niềm hân hoan
Cầu cho cuộc sống an toàn
Không bị bức xúc lo toan chuyện đời
Sống cùng bè bạn vui chơi
Giao lưu đàm đạo ấm hơi tâm tình
Biết cái nhục, hiểu điều vinh
Làm cho phẩm hạnh của mình được tăng 
Trọng đạo đức, quý tài năng
Thường xuyên rèn luyện tạo thành niềm tin
Phải có ý thức giữ gìn  
Lương tâm trong sáng cho mình yên vui
Bạn bè thân thiết tới lui
Chia sẻ tâm sự ngọt bùi đắng cay
Cùng nhau ca hát mê say
Tâm hồn rung động tràn đầy tình yêu
Cuộc vui gợi nhớ bao điều
Một thời tuổi trẻ mạch yêu dâng tràn
Cảm xúc suy tưởng miên man
Tâm hồn lãng mạn tràn lan cõi lòng
Thế rồi hồi tưởng nhớ mong
Trở về cội gốc non sông quê nhà
Bao nhiêu ước vọng thiết tha
Dựng xây tổ ấm mặn mà tình thương
Cuộc đời từng trải bốn phương
Cuối cùng vẫn thích con đường về quê
Nơi đây ấm áp nhiều bề
Đồi nương, con suối, hàng tre đường làng
Đồng lúa gió lộng thênh thang
Ngày mùa lúa chín hạt vàng trĩu bông
Dân làng rộn rịp trên đồng
Vui mừng thắng lợi thành công được mùa
Tháng ngày vất vả sớm trưa
Lo toan chăm bón, phòng ngừa rầy sâu
Nghề nông thật khó làm giầu
Rủi ro nhiều chuyện biết đâu mà lường!
Dân quê gánh mọi đau thương
Bám lấy đất mẹ kiên cường sinh sôi...
Nhìn cây cảnh, nhớ bao người
Ta muốn gửi hết những lời yêu thương…
                            NHT
                    Hà Nội tháng 1, năm 2015
                 

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

        CHIẾC ÁO DÀI NỮ VIỆT NAM THẬT TUYỆT VỜI!
                                               ********  
                                                    Nguyễn Hồng Trân
Chiếc áo dài xuất hiện ở Việt Nam từ ngày xưa lần đầu tiên vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, tức chúa Vũ Vương(1738 - 1765). Thời đó có quy định về kiểu cách chiếc áo dài nam và áo dài nữ. Áo dài nam thì đơn giản ta không bàn đến. Chỉ có áo dài nữ thì càng ngày càng phong phú về kiểu cách, màu sắc, hoa văn… đã gây ấn tượng quý mến, yêu thích cho mọi người dân Việt. hình dáng chiếc áo dài nữ đầu tiên đã ra đời do một họa sĩ có danh hiệu Cát Tường lấy cảm hứng từ mẫu chiếc áo dài tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau mà thôi.Vì thế nên đến thời Pháp thuộc người ta thường gọi là áo dài nữ là áo lơ-mue (Le mur-là bức tường- ẩn ý tên ông Tường).
  Mỗi chiếc áo dài Việt Nam có một màu riêng, như xanh, đỏ, tìm, vàng, nâu, trắng v.v… Qua nhiều thời kỳ, phụ nữ Việt sử dụng chiếc ào dài đã được cải tiến dần dần nên đẹp hơn trước và thuận lợi hơn áo dài ngày xưa. Dáng dấp chiếc áo dài thì vẫn thế, nhưng có một số chi tiết thay đổi cho phù hợp với dáng người mặc như cổ áo mở rộng không bo, vạt áo thêu thùa cành hoa, chim thú… (do bà Trần Lệ Xuân nghĩ ra năm 1957); áo dài cúc bấm, áo dài cúc khuy vải; áo dài tay bó hoặc tay loe; áo dài thêu chim, thêu hoa, đính kim tuyến, áo dài tà,  áo ngắn tà, áo dài tay, không tay, v.v… Có thể nói rằng, ngày nay áo dài phụ nữ Việt Nam rất đa dạng kiểu cách, hoa văn và đẹp hơn nhiều so với ngày xưa. Chiếc áo dài nữ Việt Nam không những chỉ phụ nữ Việt ưa thích mà cả những phụ nữ nước ngoài cũng ưa thích.
Người phụ nữ Việt Nam khi mặc áo dài trông rất duyên dáng, thanh lịch. Ngày xưa, ở thành phố cũng như nông thôn thì đi chợ, đi chùa, đi nhà thờ, đi dự việc họ, việc làng… phụ nữ đều mặc áo dài đàng hoàng, nhìn rất dịu dàng, lịch sự.
Tại cố đô Huế, phụ nữ thường thích mặc áo dài màu tím. Các du khách đến thành phố Huế khi nhìn thấy trên cầu Trường Tiền, trên các đường phố từng tốp học sinh, sinh viên mặc áo dài thướt tha đi nhẹ nhàng ung dung trông rất dễ thương, trìu mến.
Ngày xưa, gia đình tôi ở kinh thành Huế, mỗi lần tôi đi ngang trường nữ Đồng Khánh, lúc tan trường là gặp từng đoàn nữ sinh mặc áo dài xanh, tím, trắng thướt tha đi trên đường phố, trông thật đẹp đẽ, dịu dàng  dễ thương quá!...  Bây giờ mỗi lần cứ hình dung lại những ngày niên thiếu ở Huế là trước mắt tôi lại hiện lên những hình ảnh các cô gái dịu hiền, xinh tươi đang ung dung trên đường phố dọc bờ sông Hương và cầu Trường Tiền như một bức tranh thanh bình mơ mộng….
Ôi, áo dài phụ nữ Việt Nam đã ghi sâu bao niềm nhớ nhung lưu luyến của bao thế hệ học trò và thầy cô cũng như bao người dân Việt!...
                                           Hà Nội tháng 1, năm 2015
                                                          NHT