Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

          MẤY V/Đ CẦN TÌM HIỂU MỘT SỐ SỰ KIỆN LỊCH SỬ
                                 QUA BÁC ĐẶNG VĂN VIỆT
                                                 =***=
Kính thưa bác, chúng cháu rất hân hạnh được gặp bác-một lão thành quân đội NDVN để tìm hiểu thêm một số sự kiện lịch sử mà bác vừa là nhân chứng; vừa là người thực hiện nhiệm vụ.
Sau đây, có một số câu hỏi của chúng cháu lần lượt đặt ra cho bác, kính mong bác vui lòng giải đáp:
1.Cơ duyên nào mà bác gia nhập vào trường Thanh niên Tiền tuyến[TNTT] ở Huế? Trường đó do tổ chức nào thành lập và ai phụ trách làm Hiệu trưởng? Học viên có bao nhiêu người và bác còn nhớ có những ai cùng thời ấy với bác không?
2.Khi cách mạng Tháng Tám bùng lên ở Huế, tình hình trường TNTT chuyển biến như thế nào? Bác là người thực hiện việc treo cờ Tổ quốc lên kỳ đài kinh thành Huế trong ngày cách mạng ở Huế (21-8-1945) và ngày lễ vua Bảo Đại thoái vị (30-8-1945) như thế nào? Bác có thể cho biết cảm xúc của bác lúc đó?
3.Bác có ý nghĩ gì về vua Bảo Đại sau khi đọc bản chiếu thoái vị và giao lại ấn kiếm nhà vua cho Chính phủ CM lâm thời?
4.Sau CM Tháng Tám ở Huế, nghe nói có bọn biệt kích của quân Pháp nhảy dù xuống vùng núi Hiền Sĩ (không xa Huế), do một quan tư Pháp là Castella chỉ huy. Sau đó bị đội TNTT đã lập mưu kế bắt gọn toán biệt kích nhảy dù đó. Bác đã có tham gia trong đội quân ta hôm ấy, bác có thể kể lại vắn tắt việc đó và suy nghĩ của bác sau khi quân ta thu được môt số vũ khí và tài liệu mật của chúng?
5.Sau CM Tháng Tám đến kháng chiến chống giặc Pháp, bác đi bộ đội lên Cao -Bắc -Lạng và đã từng làm Trung đoàn trưởng TĐ 174, bác đã chỉ huy đánh nhiều trận thắng lợi và đã làm cho quân giặc Pháp kinh hoàng. Nghe nói tướng Pháp thời đó đã mệnh danh Đặng Văn Việt là Hùm Xám đường 4 có đúng không? Trận đánh nào bác chỉ huy mà nổi tiếng với quân địch như vậy?
6.Kính thưa bác! Trong cuộc đời quân ngũ lâu năm của bác, có kỷ niệm gì sâu sắc nhất của bác? Bác có những điều gì cần gửi lại cho thế hệ trẻ tương lai của đất nước Việt Nam chúng ta?

 BÁC ĐẶNG VĂN VIỆT TRẢ LỜI 
NHỮNG CÂU HỎI ĐÃ NÊU TRÊN
                          ==00==
LGT: Sau đây là phần tóm tắt những câu trả lời lúc tôi trao đổi với bác Việt, còn khi vào chương trình quay phim và ghi âm thì bác ấy nói rất dài với nhiều vấn đề liên quan nên tôi chưa ghi lại được toàn bộ cuộc nói chuyện của bác ấy.
*TL câu 1: Cơ duyên mà tôi và nhiều anh em thanh niên thời bấy giờ vào Huế gia nhập trường Thanh niên Tiền tuyến là sau ngày Nhật đảo chính Pháp ở VN 9-3-1945, tôi đang học năm thứ 3 Đại học Y khoa thuộc Đông Dương tại Hà Nội thì nhà trường bị đóng cửa. Do đó, chúng tôi vào Huế xin vào học trường Quân sự của Chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng sau đó trường này Việt Minh hóa thành trường Thanh niên Tiền Tuyến[TNTT] do ông Phan Anh và Tạ Quang Bửu phụ trách. Số lượng sinh viên gồm có 43 người, tôi có danh sách đầy đủ. Tôi còn nhớ hồi đó có anh Cao Văn Khánh, anh Nguyễn Thế Lương, anh Phan Tử Lăng...
*TL câu 2: Trong những ngày cách mạng Tháng Tám ở Huế, trường TNTT chuyển biến nhanh chóng thành một lực lượng quân đội cách mạng của Việt Minh, mặc dầu vũ khí chưa có gì đáng kể, chỉ mấy khẩu súng trường mà thôi. Đội TNTT chúng tôi được phân công lo việc hạ cờ nhà vua xuống và treo cờ Tổ quốc lên kỳ đài của kinh thành Huế vào ngày 21-8-1945. Lúc bấy giờ rất căng thẳng vì cột cờ có đội lính Khố vàng của nhà vua bảo vệ, họ sẵn sàng chờ lệnh vua để nổ súng vào quân Việt Minh không cho hạ cờ vàng quẻ ly của nhà vua. Nhưng vì thế lực của Việt Minh quá mạnh, vua Bảo Đại đã nắm được tình hình thế sự từ trước,  nên nhà vua không cho lính khố vàng nổ súng mà để cho quân Việt Minh muốn làm gì thì làm. Thế là chúng tôi điều khiển, chỉ huy một số lính dỏng của triều đình lo việc hạ cờ vàng của nhà vua xuống và kéo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài một cách yên ổn. Lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc rất to, rất đẹp đã tung bay phần phật trên kỳ đài kinh thành cố đô Huế trong những ngày cách mạng Tháng Tám từ 21 đến 23-8-1945.
Để chuẩn bị cho buổi lễ thoái vị của đức vua, vào ngày 30-8, cờ vàng quẻ ly của triều đình nhà Nguyễn được kéo lên lại cho đến khi làm lễ vua Bảo Đại thoái vị thì hạ xuống và kéo cờ đỏ sao vàng lên. Lúc đó mấy phát súng thần trước Ngọ Môn nổ vang trời. Cả biển người đến dự lễ đều tưng bừng phấn khởi hô vang khẩu hiệu:
"Việt Nam độc lập muôn năm!"
Lúc ấy, tôi và các đồng đội cảm thấy rất vinh dự và tự hào được chứng kiến một sự kiện lịch sử trọng đại tại cố đô Huế mùa thu cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chấm dứt chế độ quân chủ lâu đời ở Viêt Nam.
*TL câu 3: Bài chiếu thoái vị của vua Bảo Đại đã được chuẩn bị từ trước nên khá đầy đủ ý nghĩa.
Lúc đó tôi vô cùng xúc động và nghĩ rằng Bác Hồ, Đảng và Chính phủ ta rất tinh tế đã vận động được nhà vua thoái vị rất êm thấm, không xẩy ra căng thẳng, đổ máu như sau cuộc cách mạng ở Pháp(14-7-1789) do nhà vua ra sức chống cự, tàn sát quân dân công xã cách mạng nên sau đó cả nhà vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette đều bị giết vào năm 1792.

Trong bài chiếu thoái vị vua Bảo Đại đọc chiều hôm đó có đoạn:
"Còn về phần trẫm, sau 20 năm ngai vàng, bệ ngọc, đã biết bao ngậm đắng nuốt cay. Từ nay trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập, chứ trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của trẫm hay của Hoàng Gia mà lung lạc quốc dân nữa.
           Việt Nam độc lập muôn năm!
          Dân chủ Cộng hòa muôn năm!"
                                    
Sau khi đọc tờ chiếu thoái vị cũng là lời phát biểu chính thức của ông vua Nhà Nguyễn cuối cùng này, mọi người trong buổi lễ rất cảm động và đồng thanh hô to:
          -Hoan hô nhà vua thoái vị!
-Việt Nam độc lập muôn năm!
-Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!
Sau đó Ngài Bảo Đại vui cười và đề nghị Đoàn Đại diện của Chính phủ tặng cho Ngài một vật kỷ niệm. Lúc ấy ông Trần Huy Liệu rất lúng túng, vì lúc Chính phủ cử ông vào làm chủ lễ tiếp nhận thoái vị của vua Bảo Đại thì không nghĩ đến chuyện này. Do đó chẳng có gì để kỷ niệm xứng đáng cho nhà vua cả. Ông Liệu đang băn khoăn và lo lắng thì ông Cù Huy Cận rất nhanh trí đến trình với ông Liệu là sẽ lấy “Huy hiệu cờ đỏ sao vàng” tặng cho cựu hoàng. Ông Liệu tán thành và tuyên bố ông Cù Huy Cận đến trao tặng Huy hiệu cho cựu hoàng. Ông Cận nói: “Đoàn Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam xin trao tặng người công dân Vĩnh Thụy vật lưu niệm nhỏ này. Đề nghị đồng bào hoan hô!”.
Thế là mọi người hoan hô ầm vang…
Buổi lễ cũng kết thúc.

Vậy là chiều tối ngày 30-8-1945, đã chính thức chấm dứt chế độ quân chủ lâu đời ở Việt Nam và một trang sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào ngày 2-9-1945.
*TL câu 4: Nghe tin bọn biệt kích quân Pháp nhảy dù vùng núi Hiền Sĩ( cách Huế 25 Km), UB CM rất lo chuyện quân Pháp tấn công chiếm lại tp. Huế, hơn nữa, một số quan lại thân Pháp đang trong thành phố thì rất nguy hiểm cho chính quyền CM mới ra đời. Do đó, có lệnh cử chúng tôi đi bắt ông Phạm Quỳnh, ông Ngô đình Khôi... giao cho dân quân du kích địa phương đem đi quản thúc nơi xa. Về sau nghe tin có quân biệt kích Pháp nhảy dù xuống gần đó, dân quân sợ quân biệt kích Pháp sẽ giải thoát mấy ông  quan thân Pháp đó nên đã tự động giết ông Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi(con là Ngô Đình Huân).
Đội TNTT chúng tôi lại lên Hiền Sĩ lập mưu bắt gọn bọn biệt kích Pháp do tên quan tư Castella chỉ huy. Chúng tôi đã thu được điện đài, vũ khí và tài liệu mật liên quan đến việc Pháp định liên lạc với ông Quỳnh, ông Khôi để tổ chức cho hàng trăm tù binh Pháp còn ở Huế nổi dậy giành lấy lại chính quyền đã mất.
*TL câu 5: Sau những sự kiện ở Huế trong CMT8, tôi tiếp tục lên đường đi bộ đội làm lính cụ Hồ. Tôi đã qua nhiều chiến dịch đánh địch trong kháng chiến chống giặc Pháp. Cuôc đời quân ngũ của tôi và đồng đội trải qua bao gian nan, đau khổ, nguy hiểm... nhưng rất có ý chí, có nghị lực để vượt qua mọi thử thách trong chiến tranh. Tôi đã từng làm Trung đoàn trưởng TĐ 174 và đã chi huy đánh thắng giặc nhiều trận tại chiến trường vùng Cao Bắc Lạng. Đặc biệt là trận phục kích địch ở vùng dọc đường 4, quân ta đã lập kế tiêu diệt đoàn xe nhà binh của giặc hơn 130 chiếc và thu được nhiều chiến lợi phẩm về vũ khí và quân trang, quân dụng. Tôi nghe nói mấy tướng Pháp nói Đặng Văn Việt là con hùm đường 4. Thực ra họ tự phong cho mình lúc nào thì ai biết? chỉ nghe dư luận thế thôi.
*TL câu 6: Kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi trong cuộc đời quân ngũ làm lính cụ Hồ là mối tình quân và dân gắn bó mật thiết với nhau; tình đồng đội, đồng chí nồng nàn đầm ấm, biết chia sẻ ngọt bùi, cay đắng cùng nhau. Trong buổi tọa đàm này, tôi muốn nói với các bạn trẻ thời nay rằng, các bạn sống trong thời đại hòa bình và cuộc sống hiện đại, các bạn chưa hiểu hết những điều trong quá khứ mà tuổi trẻ ngày xưa của chúng tôi đã trải qua. Chúng tôi luôn nuôi dưỡng tinh thần yêu Tổ quốc, yêu dân tộc Việt Nam rất sâu sắc mới có quyết tâm, mới dám chịu đựng và hy sinh tính mạng để giành đôc lập cho Tổ quốc cho dân tộc. Có nhiều người chưa hiểu gì về chính trị và quân sự cứ cho rằng, nước ta không cần phải chiến tranh đổ máu mà cũng vẫn giành được đôc lập như một số nước trên thế giới. Lịch sử của nước họ khác với nước ta. Nước ta không thể bằng phương pháp thương lượng mà có độc lập được! Sau khi nước ta mới giành được độc lập thì giặc Pháp đã lập tức gây hấn chiến tranh đánh vào Nam Bộ. Vì vậy buộc ta phải đánh lại để giữ lấy nền độc lập non trẻ của chúng ta. Đó là cuộc chiến tranh bắt buộc để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, chứ không phải tự nhiên ta đánh Pháp để giành độc lập. Các bạn trẻ nên hiểu rõ điều đó mà đừng suy diễn một cách lệch lạc về lịch sử.
                                             Đặng Văn Việt
Chúng cháu cảm ơn bác rất nhiều về buổi chuyện trò hôm nay của bác dành cho BTLS QG VN.
Kính chúc bác và gia đình sức khỏe.
Hy vọng sẽ được gặp bác nhiều lần khác nữa.


Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015


  CÁCH TÌM BỔN MẠNG TUỔI VỚI NGŨ HÀNH
           THEO QUY TẮC LỤC GIÁP NẠP ÂM
             (Do Nguyễn Hồng Trân -tạo lập quy tắc này 
để tìm đúng danh vị tuổi bổn mạng ứng với trong ngũ hành)
 1.Tý * 2.Tuất * 3.Thân  
 4.Ngọ * 5.Thìn * 6.Dần         
 Xem lòng bàn tay trái như môt hình ngũ giác được ký hiệu GÂ (là Giáp Ất từ góc bên phải phía trên) rồi vòng theo chiều kim đồng hồ lần lượt BĐ (Bính Đinh), MK(Mậu kỷ), CT(Canh Tân), NQ(Nhâm Quý).            
Quy tắc định vị ngũ hành bổn mạng theo quy luật đầu rẽ, giữa ra, cuối vào: theo chiều kim đồng hồ để xác định.1và 4 là đầu; 2 và 5 giữa; 3 và 6 cuối-Thực hiện theo hình ngũ giác nêu trên.
Chú ý: đầu(1,4) là rẽ quay thuận lui cạnh kế sau để xác định thuộc hành nào.
     Định danh loại tuổi
Ngũ hành
Biểu tượng danh vị
 Nghĩa Việt ngữ
Canh Tý   -  Tân Sửu
Thổ
Bích thượng Thổ =
Đất trên vách
Canh Ngọ -  Tân Mùi
Thổ
Lộ bàng Thổ =
Đất ven đường
Nhâm Tý  -  Quý Sửu
Mộc
Tang đố Mộc =
Gỗ cây dâu
Nhâm Ngọ - Quý Mùi
Mộc
Dương liễu Mộc =
Gỗ cây dương liễu
Giáp  Tý  -   Ất Sửu 
Kim
Hải trung Kim =
Vàng trong biển
Giáp Ngọ -   Ất Mùi
Kim
Sa trung Kim =
Vàng trong cát
Bính Tý   -    Đinh Sửu
Thủy
Giản hạ Thủy =
Nước dưới khe
Bính Ngọ -   Đinh Mùi
Thủy
Thiên hà Thủy =
Nước mưa
Mậu Tý   -    Kỷ Sửu
Hỏa
Tích lịch Hỏa =
Lửa sấm sét
Mậu Ngọ  -   Kỷ Mùi
Hỏa
Thiênthượng Hỏa=
Lửa trên trời




Canh Tuất   -  Tân Hợi
Kim
Thoa xuyến Kim=
Vàng trang sức
Canh  Thìn-  Tân  Tị
Kim
Bạch lạp Kim =
Vàng chân đèn sáp
Nhâm Tuất -  Quý Hợi
Thủy
Đại hải Thủy =
Nước Đại dương
Nhâm  Thìn- Quý Tị
Thủy
Trường lưu Thủy=
Nước sông dài
Giáp  Tuất-   Ất Hợi 
Hỏa
Sơn đầu Hỏa =
Lửa trên đỉnh núi
Giáp  Thìn-   Ất Tị
Hỏa
Phúc đăng Hỏa =
Lửa đèn lồng
Bính Tuất  - Đinh Hợi
Thổ
Ốc thượng Thổ =
Đất trên nền nhà
Bính Thìn -  Đinh Tị
Thổ
Sa trung Thổ =
Đất trong cát
Mậu Tuất   - Kỷ  Hợi
Mộc
Bình địa Mộc =
Gỗ đồng bằng
Mậu Thìn  -   Kỷ Tị
Mộc
Đại lâm Mộc =
Gỗ rừng lớn
     Định danh loại tuổi
Ngũ
hành
Biểu tượng danh vị
 Nghĩa Việt ngữ
Canh Thân  - Tân Dậu
Mộc
Thạch lựu Mộc =
Gỗ cây thạch lựu
Canh Dần  -  Tân Mão
Mộc
Tùng bá Mộc =
Gỗ cây tùng bách
Nhâm Thân - Quý Dậu
Kim
Kiếm phong Kim=
Vàng đầu kiếm
Nhâm Dần - Quý Mão
Kim
Kim bạch kim =
Vàngtrắng:Bạch K
Giáp  Thân-  Ất Dậu
Thủy
Tuyềntrung Thủy=
Nước trong suối
Giáp Dần -   Ất Mão
Thủy
Đại khê Thủy =
Nước khe lớn
Bính Thân - Đinh Dậu
Hỏa
Sơn hạ Hỏa =
Lửa dưới núi
Bính Dần -  Đinh Mão
Hỏa
Lô trung Hỏa =
Lửa trong lò
Mậu Thân -  Kỷ Dậu
Thổ
Đại trạch Thổ =
Đất đồng lớn
Mậu Dần  -   Kỷ Mão
Thổ
Thành đầu Thổ =
Đất trên thành
   
Phương pháp LỤC GIÁP NẠP ÂM theo Địa Chi này đã mở rộng có kết hợp Can và Chi giúp ta có thể xác định được các mốc thời gian của từng thập kỷ(10 năm) với các Can Chi một cách chính xác mà không bị sai sót, nhầm lẫn. Một quy tắc đơn giản (Đầu rẽ, giữa ra, cuối vào = tức rẽ cách một đỉnh trong khuôn hình ngũ giác nêu trên rồi nhập thuận vào cạnh tiếp nối với cạnh kề gốc Can; còn các Chi giữa ra, cuối vào ra đều theo chiều thuận các cạnh hình đó). Điều này giúp ta tính được Can Chi những năm cách nhau một thập kỷ được dễ dàng. Muốn vậy, ta phải hiểu rằng, vòng Thiên Can là 10 năm, còn vòng Địa Chi là 12 năm. Bội số chung của hai vòng này là 60 năm. Nghĩa là sau 6 thập kỷ thì trùng lại tuổi có Can Chi như nhau,nhưng số tuổi khác nhau. Một điều cần lưu ý thêm là trong 10 Thiên Can, cứ mỗi Can ứng với một số cuối của số biểu năm Dương lịch như sau: Canh-0, Tân-1, Nhâm-2, Quý-3, Giáp -4,Ất-5, Bính -6,Đinh-7,Mậu -8,Kỷ -9; Ví dụ: năm 1948 là năm thuộc Can Mậu. Muốn biết thuộc Chi nào thì phải chia biểu số năm Dương lịch số cho 12, còn số dư, ta đem trừ đi 3 rồi đối chiếu với dãy 12 Chi: 1-Tý, 2-Sửu, 3-Dần, 4-Mão, 5-Thìn, 6-Tị, 7-Ngọ, 8-Mùi, 9-Thân, 10-Dậu, 11-Tuất, 12-Hợi. Như ví dụ trên, ta chia 1948 cho 12, còn dư 4, trừ 3, còn lại 1. Thế là ứng với Chi Tý. Vậy năm 1948 là năm Mậu Tý. Nhưng phải lưu ý rằng, số biểu năm Dương lịch phần nhiều là đi trước năm Âm lịch 1-2 tháng. Vì vậy, những mốc sự kiện sau tháng 2 Dương lịch thì ta mới dùng số biểu để tính như nói trên.
Ngoài ra, ta có thể tính theo quy tắc Lục giáp với hình ngũ giác nêu trên thì cũng thuận tiện mà không phải làm phép chia.

Ví dụ: Ta thử dùng năm Can Mậu với lục giáp nói trên: TÝ-TUẤT-THÂN; NGỌ-THÌN-DẦN.
Ta biết rằng Can Mậu ứng với số cuối cùng của số biểu năm Dương lịch là 8. Chẳng hạn ta lấy năm Mậu Thân =1968 thì lần lượt đến năm 1978 là Mậu Ngọ; năm 1988 là Mậu Thìn; năm 1998 là Mậu Dần… Đó là phép tiệm cận tính tới sau. Ta có thể tính lùi lại phía trước thì cũng theo thứ tự lùi trong Lục giáp đó Cụ thể với năm 1958 là năm Mậu Tuất; năm 1948 là Mậu Tý; năm 1938 là năm Mậu Dần; năm 1928 là năm Mậu Thìn v.v…
Bằng cách như thế, ta có thể tính Can Chi của những năm khác cũng theo quy tắc ấy. Chẳng hạn tính năm có Can Canh(có số cuối của số biểu năm Dương lịch là số 0). Ta lấy năm Canh Tý: năm 1960 thì năm 1970 là năm Canh Tuất; năm 1980 là năm Canh Thân; năm 1990 là năm Canh Ngọ; năm 2000 là năm Canh Thìn; năm 2010 là năm Canh Dần… và ta cũng có thể tính tới hoặc tính lùi theo ý muốn xác định một mốc năm nào đó cũng rất tiện lợi.

Những ví dụ nêu trên là tính theo Can Chi dương(số lẻ trong dãy thứ tự), còn muốn tính theo Can Chi âm(số chẵn trong dãy số thứ tự) thì cứ theo sát kế tiếp Can Chi dương là có ngay Can Chi âm.
Ví dụ: Can Chi dương là Canh Tý thì Can Chi âm kế sát đó là Tân Sửu; năm dương Canh Tuất, năm âm kế đó là Tân Hợi; năm dương là Canh Thân thì năm âm kế đó là Tân Dậu; năm dương là Canh Ngọ thì năm âm kế đó là Tân Mùi; năm dương là Canh Thìn thì năm âm kế đó là Tân Tị; năm dương là năm Canh Dần thì năm âm kế đó là năm Tân Mão…
Chúng ta cứ thực hành áp dụng cách tính này vài lần thì sẽ quen và trở nên thuận lợi, nhanh chóng và chính xác.
Cần lưu ý rằng, mỗi HÀNH TINH có liên quan đến 6 cặp tuổi âm dương có bổn mạng khác nhau(cứ mỗi cặp liền nhau là một bổn mạng, ta xem bảng liệt kê trên thì thấy rõ). Ví dụ: HÀNH MỘC gồm có 6 cặp:1.Nhâm Tý & Quý Sửu (Tang đố mộc=gỗ cây dâu); 2.Nhâm Ngọ & Quý Mùi (Dương liễu mộc= gỗ cây dương liễu); 3.Mậu Tuất & Kỷ Hợi(Bình địa mộc=gỗ đồng bằng); 4.Mậu Thìn & Kỷ Tị (Đại lâm mộc=gỗ rừng lớn); 5.Canh Thân & Tân Dậu(Thạch lựu mộc= gỗ cây lựu); 6.Canh Dần & Tân Mão(Tùng bá mộc= gỗ cây tùng).
 
Để tiện lợi cho cách xác định bổn mạng theo ngũ hành tình nói trên, tôi đã vẽ minh họa bằng cách dùng bàn tay trái mà lòng bàn tay như một hình ngũ giác có 5 cạnh để chỉ các vùng ngũ hành: Hỏa-Thổ- Mộc- Kim- Thủy; còn các góc của ngũ giác là vị trí 5 cặp Thiên Can: 1.Giáp-Ất, 2.Bính–Đinh, 3.Mậu-Kỷ, 4.Canh–Tân, 5.Nhâm Quý. 

  BÀN TAY TÌM BỔN MẠNG TUỔI THEO THIÊN CAN-ĐỊA CHI
  (do Nguyễn Hồng Trân –cựu GV ĐHTH-Huế tạo lập 2015)

Ghi chú: Các góc của lòng bàn tay trái là quy ước của 5 cặp Thiên Can dương và âm: G.Â= Giáp- Ất; B.Đ=Bính-Đinh; M.K=Mậu-Kỷ; C.T=Canh-Tân; N.Q=Nhâm-Quý. Còn các cạnh ngũ giác của lòng bàn tay trái là 5 hành tinh định dạng cho mỗi cạnh theo quy ước cứ mỗi hành tinh chứa 6 cặp bổn mạng tuổi như sau:
I.Bổn mạng hành Hỏa
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.M.Tý-K.Sửu= Tích lịch Hỏa (lửa sấm sét)
2.M.Ngọ-K.Mùi=Thiên thượng Hỏa (lửa trên trời=lửa sao băng)
3.G.Tuất-Â.Hợi=Sơn đầu Hỏa (lửa trên núi)
4.G.Thìn-Â.Tị = Phúc đăng Hỏa (lửa ngọn đèn)
5.B.Thân-Đ.Dậu= Sơn hạ Hỏa (lửa dưới núi)
6.B.Dần-Đ.Mõa = Lô trung Hỏa (lửa trong lò)
II.Bổn mạng hành Thổ
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.C.Tý-T.Sửu= Bích thượng Thổ (đất trên vách)
2.C.Ngọ-T.Mùi =Lộ bàng Thổ (đất ven đường)
3.B.Tuất-Đ.Hợi= Ốc Thượng Thổ (đất trên nền nhà)
4.B.Thìn-Đ.Tị = Sa trung Thổ (đất trong cát)
5.M.Thân-K.Dậu= Đại trạch Thổ (đất đồng lớn)
6.M.Dần-K.Mão = Thành đầu Tổ (đất trên thành)
III.Bổn mạng hành Mộc
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.N.Tý-Q.Sửu= Tang đố Mộc (gỗ cây dâu)
2.N.Ngọ-Q.Mùi= Dương liễu Mộc (gỗ dương liễu)
3.M.Tuất-K.Hợi= Bình địa Mộc (gỗ đồng bằng)
4.M.Thìn-K.Tị = Đại lâm Mộc (gỗ rừng lớn)
5.C.Thân-T.Dậu= Thạch lựu Mộc (gỗ cây lựu)
6.C.Dần-T.Mão = Tùng bá mộc (gỗ cây tùng bách)
IV.Bổn mạng hành Kim
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.G.Tý-Â.Sửu= Hải trung Kim (vàng trong biển)
2.G.Ngọ-Â.Mùi= Sa trung Kim (vàng trong cát)
3.C.Tuất-T.Hợi= Thoa xuyến Kim ((vàng trang sức)
4.C.Thìn-T.Tị = Bạch lạp Kim (vàng chân đèn sáp)
5.N.Thân-Q.Dậu= Kiếm phong Kim (vàng đầu kiếm)
6.G.Dần-Â.Mão =Kim bạch kim (vàng trắng=Pt)
V.Bổn mạng hành Thủy
gồm có 6 cặp tuổi sau đây:
1.B.Tý-Đ.Sửu = Giản hạ Thủy (nước dưới khe)
2.B.Ngọ-Đ.Mùi =Thiên hà Thủy (nước mưa)
3.N.Tuất-Q.Hợi =Đại hải Thủy (nước biển lớn)
4.N.Thìn-Q.Tị = Trường lưu Thủy (nước dòng sông)
5.G.Thân-Â.Dậu = Tuyền trung Thủy (nước trong suối)
6.G.Dần-Â.Mão = Đại khe Thủy (nước khe lớn).
                                          ==00==
  
                           Hà Nội,  năm Ất Mùi=2015
                                              NHT