Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017


         TRUYỀN THUYẾT VỀ NGÀY TÌNH YÊU VALENTINE
                            (Nguyễn Hồng Trân-Hà Nội)
Chuyện về kỷ niệm về ngày tình yêu Valentine từ ngày xửa, ngày xưa ở xa xôi nước ngoài, nhưng phong tục dân gian đất Việt chúng ta không có. Nhưng giờ đây, nhiều nước trên thế giới đã bắt chước nhau kỷ niệm ngày ấy, trong đó có nước ta ở một vài thành phố, người ta cũng muốn theo truyền thuyết đó mà kỷ niệm. Người ta cho rằng, kỷ niệm ngày đó cũng được, chẳng mất gì đáng kể cả, mà lại có dịp được nhớ đến một câu chuyện xưa có ý nghĩa nhân văn là một sự can đảm của một người có trách nhiệm để bảo vệ tình yêu…
Tôi xin gửi đến quý vị một trích đoạn về truyền thuyết  NGÀY TINH YÊU-VALENTINE ấy để quý vị xem cho biết sự tích và suy ngẫm.
Có rất nhiều thông tin về nguồn gốc của ngày lễ này, giả thuyết mà nhiều người chấp nhận nhất là:
Valentine là một linh mục dưới thời Hoàng đế La Mã Claudius II. Lúc bấy giờ là thế kỷ thứ 3 vào khoảng năm 270, Đế quốc La Mã phải tham gia nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu và không được dân ủng hộ. Do gặp phải khó khăn khi kêu gọi các chàng trai trẻ gia nhập vào quân đội, Claudius II cho rằng nguyên nhân chính là đàn ông La Mã không muốn rời xa gia đình hay người yêu của họ và hôn nhân chỉ làm người đàn ông yếu mềm. Do đó, Claudius II ra lệnh cấm tổ chức các đám cưới hoặc lễ đính hôn để tập trung cho các cuộc chiến.
Linh mục Valentine ở thành La Mã, cùng Thánh Marius đã chống lại sắc lệnh của vị hoàng đế hùng mạnh và tiếp tục cử hành lễ cưới cho các đôi vợ chồng trẻ trong bí mật. Khi bị phát hiện, linh mục Valentine đã bị bắt và kết án tử hình bằng hình thức kéo lê và bị ném đá cho đến chết. Buổi chiều trước khi ra pháp trường, ông gửi tấm "thiệp Valentine" đầu tiên cho cô con gái của viên cai tù Asterius, người thiếu nữ mù lòa bẩm sinh đã được ông chữa lành bằng phép lạ trước đó, và ký tên "dal vostro Valentino" - from your Valentine ("Từ Valentine của em").
Cho đến nay, các cặp tình nhân vẫn có truyền thống ký tên bằng cụm từ "From your Valentine" của ngày xưa thay vì tên mình trong các tấm thiệp Valentine. Dần dần, ngày 14 tháng 2 hàng năm đã trở thành ngày trao đổi các bức thông điệp của tình yêu và Thánh Valentine đã trở thành vị Thánh bổn mạng của những lứa đôi. Người ta kỷ niệm ngày này bằng cách gửi cho nhau những bài thơ và tặng cho nhau những món quà truyền thống là hoa hồng và sô cô la.
                       (Trích từ nguồn Bách khoa toàn thư mở-ViWikipedia)
                                                                        NHT
                                                      (Hà nội ngày 13/2/2017)


Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017


CUỘC GẶP GỠ ĐẦU XUÂN ĐINH DẬU VỚI CHÚ 
VÀ CÁC CHÁU RUỘT TẠI NHÀ HỒNG TRÂN, TẠI PHỐ VẠN HẠNH, Đ T VIỆT HƯNGLONG BIÊN, HÀ NỘI- 2017
                                                  ==@@==
Hai em Nguyễn Kim Khánh và Nguyễn Hồng Châu đưa chú Nguyễn Quỳnh (93 tuổi) đi du xuân và đến thăm nhà Nguyễn Hồng Trân & Thái Lê Phương tại phố Vạn Hạnh, ở khu Đô thị Việt Hưng, Q.Long Biên, Hà Nội.

Cuộc hội ngộ rất thân mật, vui vẻ giữa mấy cháu và chú thật ấm áp đậm đà tình cảm. Thấy chú còn minh mẫn vui tươi và kể nhiều chuyện về những ngày Tết đến, xuân về ở quê hương cũng như ở các vùng mà chú đã trải qua, chúng tôi nghe rất thích. Điều đó làm cho chúng tôi thêm vui mừng nhìn thấy chú như trẻ lại gần 10 tuổi. Chúng tôi đồng thanh nâng ly rượu vang đỏ đầu xuân kính chúc chú thượng thọ đến tròn 100 tuổi. Tôi đã nói với chú và các em rằng, chúng ta rất hạnh phúc có được một người chú ruột thọ nhất làng ta mà còn sức khỏe, tinh thần tỉnh táo vui tươi, mặc dù đã 24 năm qua chú không còn thím nữa để cùng chú chăm sóc nhau và chia xẻ bao nỗi buồn vui của tuổi già. Càng nghĩ như thế, chúng tôi càng thương chú rất nhiều và cầu mong cho chú luôn được an lành, thoải mái cho đến khi tổ tiên gọi về nhập tịch ở cõi vĩnh hằng…

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017


    TẾT ĐẾN XUÂN VỀ
           ==$$==
Đinh Dậu năm nay đã đến rồi
Cùng nhau phấn khởi đón xuân vui
Cả năm vất vả lo công việc
Tết đến-Xuân về phải dạo chơi…
                     * * *
(Long Biên, Hà Nội 28/01/2017)                 
             Nguyễn Hồng Trân


Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017


TÌM HIỂU VỀ NHỮNG CHIẾC CẦU
QUA SÔNG HỒNG Ở HÀ NỘI
(Nguyễn Hồng Trân, sưu tầm, khảo sát, tổng hợp)
1.CẦU LONG BIÊN
Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng nối hai quận Hoàn Kiếm với quận Long Biên của Hà Nội, do Pháp xây dựng (1898-1902), đặt tên là cầu Doumer, theo tên của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer. Dân gian còn gọi là cầu sông Cái hay cầu Bồ Đề (vì nó được bắt qua bến Bồ Đề thuộc huyện Gia Lâm). Hiện trên đầu cầu vẫn còn tấm biển kim loại có khắc chữ 1899 -1902 - Daydé & Pillé - Paris.
Đến năm 1915 thì cầu có tên chính thức là cầu Long Biên cho đến nay.
Xây dựng
Dự án xây dựng cầu được Toàn quyền Đông Dương thông qua ngày 4 tháng 6 năm 1897 và đến ngày 4 tháng 6 năm 1897 đã tiến hành đấu thầu và 6 công ty xây dựng cầu đường lớn của Pháp tham dự.Ông Fourès, Thống sứ Bắc Kì được cử làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định các dự án. Cuối cùng, Hội đồng mở thầu đã chọn dự án B của công ty Daydé & Pillé với giá 5.390.794 franc Pháp. Cây cầu được thiết kế với kiểu dáng độc đáo do hãng Daydé & Pillé thiết kế. Nha công chính Đông Dương xây dựng phần cầu dẫn. Ngày 12.9.1898 diễn ra lễ khởi công xây dựng và sau hơn 3 năm (chính xác là 3 năm chín tháng) thì hoàn thành, dù kế hoạch dự trù phải mất 5 năm. Để tiến hành xây dựng cầu, người ta phải tuyển mộ hơn 3000 công nhân bản xứ và một đội ngũ khoản 40 giám đốc, kỹ sư, chuyên gia và đốc công người Pháp để điều hành công việc. Người ta đã dùng đến 30.000m3 đá và kim loại (5600 tấn thép cán, 137 tấn gang, 165 tấn sắt, 7 tấn chì). Tổng số tiền thực chi lên tới 6.200.000 franc Pháp, không vượt quá dự trù là bao.
Cầu dài 2290m qua sông và 896m cầu dẫn, gồm 19 nhịp dầm thép đặt trên 20 trụ cao hơn 40m (kể cả móng) và đường dẫn xây bằng đá. Cầu dành cho đường sắt đơn chạy ở giữa. Hai bên là đường dành cho xe cơ giới và đường đi bộ. Đường cho các loại xe là 2,6m và luồng đi bộ là 0,4m. Luồng giao thông của cầu theo hướng đi xuôi ở phía trái cầu chứ không phải ở bên phải như các cầu thông thường khác.
Công ty Daydé & Pillé là nhà thầu đã trúng thầu xây dựng cầu Long Biên. Trong các bản vẽ thiết kế cầu Long Biên của Daydé & Pillé hiện được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I có các chữ ký gốc của các kỹ sư của Daydé & Pillé và chữ ký gốc phê duyệt bản vẽ của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer.  
Hoạt động
Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ 1(1965-1968),cầu bị máy bay Mỹ ném bom 10 lần,hỏng 7 nhịp và 4 trụ lớn Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ hai của không lực Hoa Kỳ (1972) cầu Long Biên bị ném bom 4 lần,phá hỏng 1500m cầu và hai trụ lớn bị cắt đứt. Để bảo vệ cầu, bộ đội công binh và phòng không Việt Nam xây dựng hai trận địa pháo phòng không cao 11,5 m trên bãi cát nổi giữa sông Hồng (còn gọi là bãi giữa), để vẫn có thể bắn máy bay Hoa Kỳ khi có lũ cao nhất.
Bộ đội Phòng không Việt Nam dùng máy bay trực thăng cẩu pháo, khí tài chiếm lĩnh trận địa. Ngoài ra còn có lực lượng phòng không hải quân gồm: các tàu tuần tiễu tham gia bảo vệ cầu.
Các nhịp của cầu bị bom đánh đổ đã được thay bằng các dầm bán vĩnh cửu, có khẩu độ ngắn đặt trên các trụ mới.
Lịch sử sử dụng cầu Long Biên đã chứng kiến các điểm cao trên thành cầu trở thành ụ pháo cao xạ chống máy bay Mỹ trong thời gian chiến tranh.
Sang thời bình, do giao thông ngày một tăng trong thập kỷ 90, cầu Long Biên được sử dụng chỉ cho tàu hỏaxe đạp và người đi bộ. Việt Nam xây dựng thêm cầu Chương Dương nằm trong mục tiêu đáp ứng nhu cầu đi lại và để phát triển kinh tếxã hội đô thị ở hai bờ sông Hồng Hà Nội. Cuối năm 2005 xe máy được phép đi qua cầu Long Biên để giảm việc ùn tắc giao thông cho cầu Chương Dương.
Năm 2002, Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt thông qua dự án gia cố sửa chữa cầu Long Biên giai đoạn 2 với tổng vốn đầu tư 94,66 tỷ đồng, nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn khai thác đến năm 2010.
Trong văn hóa
Cầu Long Biên có trong câu vè sau:
Hà Nội có cầu Long Biên
Vừa dài vừa rộng bắc qua sông Hồng
Tàu xe đi lại thong dong
Người người tấp nập gánh gồng ngược xuôi...
                                         ==00==
2.CẦU THĂNG LONG
Cầu Thăng Long bắc qua sông Hồng tại vị trí km 6+300 trên đường vành đai 3, nối huyện Đông Anh với quận Bắc Từ Liêm của Hà Nội.  Cầu được xem là công trình thế kỉ của tình hữu nghị Việt-Xô.
Thông số kỹ thuật
-Chiều dài: 3250m.
-Cấu tạo: là cầu giàn thép.
-Cấu trúc: Cầu đường bộ và đường sắt đi chung, gồm 2 tầng. Cầu có 25 nhịp phần cầu chính và 46 nhịp cầu đường dẫn của đường sắt và đường xe thô sơ.
-Tầng 1: có 2 làn cầu riêng biệt, rộng 3,5m (1 làn) dùng cho phương tiện thô sơ. Phần giữa tầng 1 là đường dành dành cho tàu hỏa chạy tuyến Văn Điển - Bắc Hồng có chiều rộng 11m.
-Tầng 2: dành cho các loại xe cơ giới có chiều rộng 21m, mặt cầu bê tông,2 làn dành cho người đi bộ tham quan.
Lịch sử xây dựng
Thiết kế
Từ năm 1974-1977 do chuyên gia Trung Quốc thực hiện.Về thiết kế cầu giống với Cầu Trường Giang (Nam Kinh, Trung Quốc).  
Xây dựng
Cầu được khởi công xây dựng năm 1974 và chính thức khánh thành vào ngày 9 tháng 5 năm 1985. Đây là cây cầu duy nhất ở Hà Nội có thời gian thi công lâu nhất trong 11 năm. Ban đầu do Trung Quốc giúp xây dựng, tuy nhiên đến cuối năm 1977, Trung Quốc đã cắt viện trợ và rút hết các chuyên gia về nước khiến cho công trình bị bỏ dở. Sau đó, năm 1978, Chính phủ Liên Xô cử chuyên gia sang Hà Nội tiếp quản và xây dựng chiếc cầu này cho hoàn thành công trình.
                                                   ==00==
3.CẦU CHƯƠNG DƯƠNG
Cầu Chương Dương bắc qua sông Hồng, trên quốc lộ 1A tại km170 +200, địa phận Hà Nội, nối trung tâm quận Hoàn Kiếm với quận Long Biên. Đây là cây cầu lớn lần đầu tiên được thiết kế và thi công tại Việt Nam không cần có sự trợ giúp kỹ thuật của các kỹ sư nước ngoài. Tại cây cầu này các kỹ sư cầu đường của Việt Nam tự thử sức mình để có thể tự thiết kế và thi công các cây cầu lớn khác.
Lịch sử
Những năm 80 của thế kỷ XX, cả Hà Nội chỉ có cầu Long Biên bắc qua sông Hồng. Do làn đường ôtô quá nhỏ nên cảnh ách tắc luôn xảy ra và cầu được mệnh danh là cây cầu dài nhất thế giới do xe phải mất nhiều tiếng đồng hồ mới qua được. Trong khi đó, cầu Thăng Long còn đang dở dang và dù có xong thì nó cũng không chia sẻ được nhiều do vị trí quá xa trung tâm. Do vậy, dựng ngay một cây cầu để vào trung tâm Hà Nội là ưu tiên số một và chủ trương ban đầu là làm tạm một cầu treo. Trách nhiệm chỉ đạo xây dựng cầu được giao cho tân Thứ trưởng Bùi Danh Lưu.
Ông Bùi Danh Lưu cùng lãnh đạo Bộ thuyết phục Chính phủ làm cầu sắt vĩnh cửu với tốc độ làm cầu treo. Được đồng ý, ông cho tận dụng vật liệu "đầu thừa đuôi thẹo" là một số thanh thép phục vụ thi công cầu Thăng Long và rất nhiều dầm cầu đường sắt. Để các dầm sắt này phù hợp khổ cầu đường bộ như cầu Chương Dương, ông Lưu đã phải chỉ đạo "chế sửa" lại theo cách riêng mà thế giới chưa từng làm.
Cầu được khởi công xây dựng  vào ngày 10-10-1983. Sau một năm chín tháng, vào ngày 30-6-1985, cầu Chương Dương khánh thành, vượt tiến độ 12 tháng, chấm dứt hoàn toàn cảnh tắc nghẽn trên cầu Long Biên.
Cầu Chương Dương đã đi vào lịch sử với tên tuổi đồng chí Bùi Danh Lưu. Trả lời về việc thuyết phục thành công cấp trên thay đổi quyết định ông nói: "Bên cạnh những lý lẽ khoa học thì đặc biệt là phải hết sức công tâm vì nước, vì dân. Bởi tiền chúng ta xây cầu cũng là tiền của dân mà".
Thông tin chung
Đây là cây cầu nối quận Hoàn Kiếm với quận Long Biên của Hà Nội.
Từ 2002 cầu được sửa chữa, gia cố.
Thông số kỹ thuật
1.Chiều dài: 1.230m.
2.Gồm 21 nhịp: 11 nhịp thép; 10 nhịp bê tông trong đó 7 nhịp ở phía Hà Nội và phía Gia Lâm có 3 nhịp.
3.Tải trọng: H30(30 tấn).
4.Phân tải: cầu chia làm bốn làn xe chạy hai chiều, ở giữa có phần cánh gà mỗi bên rộng 5 m. Phía ngoài cùng có làn đường dành cho xe máy rộng 1,5 m.
                                                    ==00==
4.CẦU THANH TRÌ
Cầu Thanh Trì là cây cầu lớn nhất trong dự án 7 cây cầu của Hà Nội bắc qua sông Hồng, nối quận Hoàng Mai với quận Long Biên, bắt đầu từ điểm cắt quốc lộ 1A tại Pháp Vân (Hoàng Mai), điểm cuối cắt quốc lộ 5 tại Sài Đồng (Long Biên). Cầu Thanh Trì có trọng tải H30 - XB80 tức là: xe tải bánh lốp có tải trọng dưới 30 tấn, cũng như xe bánh xích có tải trọng dưới là 80 tấn thì đạt điều kiện về tải trọng để qua cầu. Cầu chính dài 3.084 m với tổng chiều dài hơn 12.000 m, rộng 33,10 m với 6 làn xe chạy (4 làn xe cao tốc), tốc độ cho phép 100 km/hgiá đấu thầu là 1.395,46 tỷ đồng. Sau khi hoàn thành, cầu Thanh Trì sẽ góp phần cơ bản giải quyết ách tắc giao thông tại thủ đô Hà Nội. Cầu Thanh Trì được coi là dự án cầu lớn nhất Đông Dương hiện nay.
-Ngày 18 tháng 8 năm 2006, hợp long cầu Thanh Trì.
-Ngày 2 tháng 2 năm 2007, cầu được thông xe.
-Đến ngày 9 tháng 10 năm 2010, khánh thành cầu vượt cạn Pháp Vân kết nối cầu Thanh trì.
Dự án ODA
Dự án cầu Thanh Trì có tổng mức đầu tư 5.700 tỷ đồng (410 triệu USD), sử dụng vốn vay ODA, chủ đầu tư là Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam, và Ban quản lý dự án Thăng Long làm đại diện chủ đầu tư.
                                                   ==00==
5.CẦU VĨNH TUY
Cầu Vĩnh Tuy là một cây cầu bắc qua sông Hồng, phía đầu cầu bên trung tâm Hà Nội nằm ở địa phận phường Vĩnh Tuy, thành phố Hà Nội, nối quận Hai Bà Trưng và quận Long Biên.
Lịch sử
-Khởi công xây dựng ngày 3 tháng 2 năm 2005, dự kiến khánh thành tháng 5 năm 2007. Nhưng do khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng nên tiến độ khánh thành cầu đã bị chậm lại.  
-Ngày 25 tháng 9 năm 2009, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức cắt băng khánh thành thông xe cây cầu rộng nhất Việt Nam.
-Ngày 26 tháng 9 năm 2010, cầu Vĩnh Tuy chính thức được khánh thành.
Tính năng kỹ thuật
1.Đây là cầu kết cấu dầm hộp bêtông cốt thép dự ứng lực, sơ đồ cầu liên tục nhiều nhịp.
2.Cầu được thi công với công nghệ đúc hẫng và đạt kỉ lục về chiều dài nhịp đúc hẫng của Việt Nam (135m so với cầu Thanh Trì là 130m)
3.Cầu được thiết kế có 2 làn xe cơ giới, 1 làn xe buýt, 1 làn xe hỗn hợp. (giai đoạn I)
4.Bảo đảm lưu lượng vận tải khoảng 35.000 lượt xe/ngày đêm vào năm 2010.
5.Tổng chiều dài gần 5 km. Phần cầu qua sông dài 3.690 m. Phần cầu chính được bố trí chuỗi nhịp dài 990 m, rộng 38 m. Đây được cho là cây cầu rộng nhất Việt Nam hiện nay.
Cầu Vĩnh Tuy cùng với cầu Thanh Trì là 2 cây cầu mới được xây dựng tại Hà Nội, có ý nghĩa giao thông quan trọng nhưng đều chậm tiến độ không dưới 2 năm.
Phân luồng giao thông
Từ năm 2010 tất cả các tuyến xe khách và xe trên 24 chỗ ngồi xuất phát từ trung tâm Hà Nội sang phía đông (Gia Lâm) đều phải qua cầu Vĩnh Tuy, thay cho trước kia được phép qua cầu Chương Dương.
Vốn đầu tư
-Theo thiết kế tổng vốn khoảng 3.600 tỷ đồng VN.
-Sau quá trình thi công kéo dài, trượt giá tính lại khoảng 5.500 tỷ đồng Việt Nam.
Giai đoạn 2
Tổng mức đầu tư hơn 2.560 tỷ đồng, sử dụng ngân sách nhà nước, trong đó chi phí xây dựng gần 1.820 tỷ đồng.
Theo thiết kế, cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 2 nằm song song cầu cũ, 2 mép cầu cách nhau 2 m về phía hạ lưu sông Hồng, dài hơn 3,5 km, bắt đầu từ điểm giao với đường Trần Quang Khải - Nguyễn Khoái - Minh Khai, kết thúc tại điểm giao với đường Long Biên - Thạch Bàn, mặt cầu rộng 19,25m.
Phần cầu chính vượt sông dài 955 m, phần cầu dẫn trên bãi sông phía Bắc dài gần 1,76 km, cầu vượt đê tả sông Hồng dài 220 m, cầu dẫn phía Long Biên dài 210m.
Ban Quản lý dự án hạ tầng Tả ngạn được giao làm chủ đầu tư dự án, thời gian thực hiện dự kiến từ năm 2012 đến 2014.
                                                    ==00==
6.CẦU NHẬT TÂN
Cầu Nhật Tân là một cây cầu được xây dựng với tổng mức đầu tư hơn 13.626 tỷ đồng nằm trong tổng số 7 cầu bắc qua sông Hồng đoạn Hà Nội, nối quận Tây Hồ với huyện Đông Anh, kết cấu nhịp của cầu chính theo dạng cầu dây văng nhiều nhịp với 5 trụ tháp hình thoi và 6 nhịp dây văng, bắt đầu tại phường Phú Thượng, quận Tây Hồ đến điểm cuối giao với quốc lộ 3 tại km 7+100, xã Vĩnh Ngọc huyện Đông Anh. Cầu được khởi công ngày 7 tháng 3 năm 2009, ngay sau khi hoàn thành cầu Thanh Trì và hoàn thành nhân kỷ niệm Thăng Long-Hà Nội 1000 năm. Theo dự án, cầu được kết cấu kiểu dây văng liên tục bê tông cốt thép dự ứng lực, thi công bằng phương án đúng hẫng cân bằng. Cầu Nhật Tân được khánh thành vào ngày 4/1 /2015,đồng bộ với đường Nhật Tân - Nội Bài tạo nên một tuyến cao tốc nội đô hiện đại, rút ngắn thời gian di chuyển từ cảng hàng không quốc tế Nội Bài tới trung tâm Hà Nội. Cầu được xem là biểu tượng mới của Thủ đô Hà Nội với 5 nhịp dây văng tượng trưng cho 5 cửa ô.
Mặt cầu rộng 33,2 mét với 8 làn xe cho cả hai chiều, chia thành 4 làn xe cơ giới, 2 làn xe buýt, 2 dải xe hỗn hợp, phân cách giữa, đường dành cho người đi bộ. Cầu dài 3,9 km và có đường dẫn 5,27 km, trong đó phần chính của cầu qua sông dài 1,5 km.
*Cái tên cầu Nhật Tân có lẽ là "Ngày Mới" hoặc là gần vùng trồng hoa đào ở Nhật Tân.

                                                      ==aa==

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2017


CHÀO MỪNG NĂM MỚI 2017
                               =a aa=


SANG NĂM MỚI 2017, NGUYỄN HỒNG TRÂN VÀ THÁI LÊ PHƯƠNG XIN CHÚC QUÝ VỊ BÀ CON, BẠN BÈ, DỒI DÀO SỨC KHỎE, MỌI VIỆC THUẬN LỢI, ĐỜI SỐNG ẤM ÊM VÀ CÓ THÊM NHIỀU NIỀM VUI MỚI...

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

  ĐẾN THĂM LẠI VÙNG 5 CỬA Ô HÀ NỘI XƯA
    (Nguyễn Hồng Trân-sưu tầm, khảo sát và tổng hợp)

Tôi đã sống học tập và làm việc tại Hà Nội cũng gần 20 năm, nhưng cũng không chú ý tìm hiểu kỹ về các cửa ô ở Thủ đô Hà Nội. Sau này, tôi từ Huế ra lại Hà Nội định cư và sống cùng con cháu, hằng năm cứ vào dịp ngày 10 tháng 10 kỷ niệm ngày đoàn quân ta về tiếp quản Thủ đô, bài hát TIẾN VỀ HÀ NỘI của nhạc sĩ Văn Cao cứ vang lên dồn dập đêm ngày nghe rất hào hùng. Trong lời ca đó có câu: "Năm cửa ô đón chào đoàn quân tiến về,… Hà Nội bừng tiếng quân ca…". Thế là tôi cứ nhớ lại thời trai trẻ của mình đã từng ở Hà Nội và cùng với bạn bè hát ca bài đó một cách say sưa, sôi nổi.
Vì vậy mà tôi cố tìm hiểu kỹ về 5 cửa ô xưa ở Hà Nội để biết rõ thêm về di tích lịch sử của chúng.  
1.Ô Quang Chưởng
Ô Quan Chưởng hay còn gọi là ô Đông Hà, tên chữ là Đông Hà môn (東河門, tức cửa phường Đông Hà), là một cửa ô của Hà Nội xưa, nằm ở phía Đông của toà thành đất bao quanh Kinh thành Thăng Long, được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long thứ ba (1817) được xây dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay. Đây là một trong 21 cửa ô, mà cửa ô này là một trong 5 cửa ô lớn còn sót lại của thành Thăng Long cũ.[1]
Ngày nay, ô Quan Chưởng nằm trên phố Ô Quan Chưởng, đầu phố Hàng Chiếu, gần chân cầu Chương Dương. Thời xưa, ô Quan Chưởng nằm trên đường từ trong thành phố đi ra bờ sông, thuộc địa phận phường Đông Hà, tổng Hậu Túc (sau đổi là Đồng Xuân), huyện Thọ Xương cũ. Từ cửa ô ra đến bờ sông Hồng là con đường dài tám chục mét. Phía ngoài cửa ô trước kia coi như đất ngoại thành.
Cổng xây có vọng lâu được canh gác và kiểm soát cẩn mật để giữ an ninh cho khu phố buôn bán bên trong. Hiện cửa ô còn nguyên lối tam quan với cửa chính và hai cửa phụ hai bên, trên nóc cửa chính có vọng lâu, tường phía trái cửa chính có gắn một tấm bia đá do Tổng đốc Hoàng Diệu cho đặt năm 1881 ghi lệnh cấm người canh gác không được sách nhiễu nhân dân mỗi khi qua lại cửa ô. Bên trên cửa lớn có ba chữ Hán 東河門 (Đông Hà môn).
Ca dao về Ô Quan Chưởng có câu:
Long Thành bao quản nắng mưa
Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây.
Tên gi
Tương truyền, tên gọi Ô Quan Chưởng bắt nguồn từ sự kiện xảy ra vào năm Tự Đức thứ 26, khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội (20 tháng 11 năm 1873). Sách Người và cảnh Hà Nội của cụ Hoàng Đạo Thúy đã ghi: "Song song với Hàng Đậu là Hàng Khoai. Dưới chợ là phố Mới, đầu phố chỗ gần bờ sông có cửa ô Quan Chưởng (cửa Đông Hà) còn nguyên cổng xây cũ, đoạn này gọi là phố Hàng Chiếu. Trước khi Tây sang, tên Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa) gây cơ sở ở đây cùng với bọn khách trú, khi Francis Garnier đánh thành thì một ông Chưởng cơ, cùng một trăm chiến sĩ đã giữ thành này đến người cuối cùng!...". Tuy nhiên, sự kiện năm 1873 cho đến nay vẫn chưa được xác minh[2].
Chú thích
1.Từ điển đường phố Hà Nội Ô Quan Chưởng (đăng tại Hà Nội Mới online)
2.Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội, Ô Quan Chưởng
                                         ==00==  
2.Ô Cầu Dền

Ô Cầu Dền tên chữ là Yên Ninh, là một cửa ô của Hà Nội xưa, nằm sau thành Thịnh Yên[1]. Ô Cầu Dền là một cửa ngõ của kinh thành Thăng Long, xuất hiện trong sử từ thời Lý, thế kỷ XI - XII (Theo sách Đại Việt sử lược, quyển II, III, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1960).
Các cửa ô Hà Nội đã được nêu trong nhiều tác phẩm văn thơ, âm nhạc.
Hà Nội vui sao
Những cửa đầu ô
Tíu tít gánh gồng
Đây Ô chợ Dừa, kia Ô Cầu Dền
Làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm...
Lời ca bất hủ trên đây trong bài ca Người Hà Nội của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi đã làm xao xuyến hàng triệu con tim khi nhắc tới tên các cửa ô của Hà Nội.
Vị trí:
Ô Cầu Dền nằm ngã tư lớn nối phố Huế, Bạch Mai, Trần Khát Chân, Đại Cồ Việt. Đây chính là vị trí của ô Cầu Dền ngày xưa.
Các tài liệu và bản đồ cũ cho chúng ta thấy rõ vị trí của địa danh này cố định và tồn tại khá lâu, ít ra là từ thế kỷ XVIII. Dưới triều Nguyễn, cửa ô Cầu Dền là cửa ô chính quan trọng nhất trên đường thiên lý. Đó là con đường nối liền Thăng Long với các trấn và các tỉnh phía Nam (vào kinh đô Huế) qua những đồi cây cối rậm rạp và cả một rừng mai (nay thuộc khu vực Bạch Mai, Trương Định). Năm 1782 Lê Hữu Trác lên kinh qua cửa ô Cầu Dền có tả như sau: "Tôi thấy một cái thổ thành không cao lắm, kế bên có một dãy tường nhỏ, trên mặt tường ngựa đi được; phía ngoài là hàng rào tre dày đặc, dưới hàng rào có hào sâu, trong hào thả chông, thật là mười phần kiên cố. Ba tầng vọng canh được thiết lập nơi đây, tầng nào cũng có quân lính đứng thành hàng hai bên, đao thương xán lạn, hào quang như tuyết. Lính giữ cửa thấy bọn tôi đi có mang binh khí, xét hỏi thật nghiêm ngặt, đến khi biết rõ đầu đuôi, lại nhận thấy dấu hiệu áo lính trấn thủ đất Nghệ An mới để cho đi".
Tên gọi:
Tên gọi Ô Cầu Dền Theo cố giáo sư Trần Quốc Vượng cho hay: trước đó, cái tên này đã xuất hiện ở cố đô Hoa Lư (Trường Yên, Ninh Bình) với tấm bia cổ, chiếc cầu đá bắc qua sông Hoàng Long và cũng là một cửa ngõ của kinh thành Hoa Lư. Vì lẽ đó, có tác giả đã cho rằng cái tên Ô Cầu Dền cũng như nhiều tên khác ở Hà Nội: Cầu Đông, Chợ Dừa, Đình Ngang... đã được Lý Thái Tổ mang từ cố đô Hoa Lư ra kinh đô mới Thăng Long cách đây nghìn năm trước.
Theo một tích khác cửa ô Cầu Dền lại chép: đời nhà Mạc, ở làng Kim Liên có một người học trò cha mẹ chết sớm, nhà nghèo, phải đi dạy học kiếm ăn qua ngày. Mấy năm đói kém, nhờ có mấy mẫu ruộng rau dền nên anh đã cứu giúp được nhiều người qua khỏi nạn đói. Vì thế, người ta gọi chỗ ở của anh là Cầu Dền. Các cụ cao niên ở đây vẫn còn nhớ vùng này xưa kia (và thậm chí cho đến những năm 1945 - 1954) có con sông nhỏ dẫn nước thải từ nội thành ra, hai bên bờ có đất bãi phù sa, rau màu quanh năm xanh tốt. Trong đó có rau dền là nhiều hơn cả. Chiếc cầu bắc qua con sông hai bên bờ có nhiều rau dền nên gọi là Cầu Dền.
3.Ô Đông Mác
Ô Đông Mác tên chữ là Thanh Lãng, là một cửa ô của Hà Nội xưa, nằm sau thành Lãng Yên[1]. Ô Đông Mác là một cửa ngõ của kinh thành Thăng Long, Cửa Ô Đông Mác hiện tại đã mất hết hình tích cũ. Ngày xưa còn có tên Ô Đống Mác.
V trí:
Hiện nay, có phố Đống Mác nằm ở cuối phố Lò Đúc cũng là nơi gần vi trí Ô Đông Mác ngày xưa, giao nhau với đường Trần Khát Chân và đường Kim Ngưu, phía đông nam Hà Nội.
Là một trong những điểm bắt đầu của con đường thiên lý Bắc-Nam xưa, cửa ô này là nơi có thể đến bằng đường bộ lẫn đường thuỷ vào thành Thăng Long, nên thường có quân lính canh gác khá nghiêm ngặt.  
Tên gi:
Ô Đông Mác là tên cửa ô thời xưa, thời chúa Trịnh Sâm, (thế kỷ 18) có tên là ô Ông Mạc. Bản đồ Hà Nội năm 1831 gọi đây là cửa ô Thanh Lãng. Tới bản đồ năm 1866, cửa ô này được gọi là cửa ô Lãng Yên. Sang thế kỷ 20, người dân quen gọi là ô Đông Mác.
Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, Đông Mác còn có tên là Ông Mạc. Vì năm 1782, từ nội thành về bến Thanh Trì, Hải Thượng Lãn Ông đã đi qua cửa ô này và ghi trong Thượng kinh ký sự: "Ngày 10/9, từ sáng tinh mơ, tôi qua cửa ô Ông Mạc. Cửa chưa mở…."
                                       ==00==
 4.Ô Chợ Dừa
Ô Chợ Dừa tên chữ là Thịnh Quang, là một cửa ô của Hà Nội xưa, nằm về phía tây của kinh thành Thăng Long.
V trí:
Ô Chợ Dừa nằm ở ngã sáu của các phố Khâm Thiên, Tôn Đức Thắng, Đê La ThànhNguyễn Lương Bằng, Xã Đàn.
Tên gi:
Ô Chợ Dừa nơi có chợ nhỏ họp dưới hàng dừa rợp bóng bát ngát, một phần đã giải thích cái tên gọi quen thuộc của cửa ô, lại hiện lên với vẻ sầm uất, nhộn nhịp của cảnh chợ.
Theo ghi chép trong Thượng Kinh ký sự của cụ Lê Hữu Trác: " Một cái thành đất không cao lắm. Bên cạnh là một cái tường nhỏ, trên mặt tường là đường xe ngựa đi, ở mé ngoài hàng rào che kín mít. Dưới chân tường là hào sâu. Trong hào thả chông xem ra rất kiên cố. Thành có ba vọng canh, nơi nào cũng có lính sắp hàng, gươm súng sáng quắc ".
                                         ==00==
5.Ô Cầu giấy
Tên gọi:
Cửa ô này ngày xưa là mở sát làng làm nghề giấy.
Vi trí:
Ô Cầu Giấy thì là một cửa ô xẻ qua toả thành đất bao quanh khu đông dân cư của kinh thành Thăng Long xưa, được nhiều nhà nghiên cứu gọi là vòng thành giữa, mà bức tường phía tây chạy từ núi Sưa (trong vườn Bách Thảo) theo phố Ngọc Hà, vượt phố Sơn Tây, Nguyễn Thái Học, trở thành chính phố Giảng Võ ngày nay. Cửa ô này vốn có tên chữ Hán là Thanh Bảo và ở vào chỗ gần Bến xe Kim Mã bây giờ."
Ô Thanh Bảo mới có từ đời Nguyễn. Ô Cầu Giấy có từ thời Lý ở gần Cầu Giấy (có thể nằm trên đê đường Bưởi) thì đúng hơn.  
 "Nguyên ở khu vực đầu phía đông cây cầu vốn có một cửa của một toả thành mà bức tường phía tây chạy ven bờ trái sông Tô, từ chợ Bưởi xuống đến Cầu Giấy. Đó là toả thành đất mà Lý Thái Tổ cho đắp từ năm 1014. Việt sử thông giám cương mục có ghi: "Năm Giáp Dần (1014) đắp thành đất Thăng Long: bốn bề xung quanh ngoài kinh thành đều sai đắp thành đất". Cái cửa phía tây này có tên là Tây Dương.